Board index   FAQ   Search  
Register  Login

*** ***
Click here to go to vomtroimagazine.com
Supporters

Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Thi-phú, Văn vần

Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:32 am

Vườn Thơ Việt Tuyển
Last edited by Nguyễn Long Hiệp on Sun Mar 16, 2014 10:34 am, edited 1 time in total.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:33 am

by Nguyễn Long Hiệp » Wed Jan 22, 2014 6:17 pm

Chính Khí Việt


Một ngày lạnh nước người không tri kỹ,
Ta vỗ án hét thành ca chính khí.
Đông thê thê như gió thổi u hồn,
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.

Lòng sống chết buồn vui bừng nổi dậy,
Thoát lăm le như dục người chọn lấy.
Năm nghìn năm làn máu bén dạt dào,
Sóng lớp lớp rượu ba tuần thuở ấy.

Tiếng vang vang như thần kêu quỷ hét.
Trời ngập ngập như quân khiêu tướng thét,
Gọi quá khứ vị lai những u hồn
Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết.

Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết.

Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc,
Sông Bạch Đằng sóng vỗ thuyền cắc cắc,
Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao,
Đồng Đống Đa xương người phơi man mác.

Buổi Sát thát chàm vai thề đầu mất,
Ngày Bình Ngô nổi cờ không khuất tất,
Khi Cần Vương nhổ mặt lũ gian hùng,
Lúc Cứu Quốc vòng bôn lao uất uất.

Thà làm ma nước Nam không vua Bắc,
Đầu chẳng còn quyết không đương cắt tóc,
Lửa đốt mình không phụ nợ non sông,
Dây thắt cổ cho tròn trung xã tắc.

Dây thắt cổ cho tròn trung xã tắc.

Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết
Những trung hồn xưa, nay, mai oanh liệt
Mở nguồn sống xưa, nay, mai nước nòi,
Muôn nghìn đời dạt dào chính khí Việt.

Chính khí Việt suốt đất trời bàng bạc,
Chính khí Việt trong máu người Hồng Lạc,
Gió thê thê quất dậy hồn phục hưng
Gươm Vạn Thắng cứu nước nòi giết giặc.
Chính khí Việt là hồn gươm Vạn Thắng,
Sắt tôi với máu đào hun lửa nóng,
Và Đại Việt muôn năm! Cả toàn dân
Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng.

Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng.


Lý Đông A. Liễu Châu 4821 T.V. (1942).


Đôi điều về tác giả.

Chúng ta biết rất ít về cuộc đời Lý Đông A, dù ông sống vào thế kỷ thứ hai mươi. Đó là thời người Pháp đang chiếm đóng nước Việt (từ 1884) và dân Việt khắp nơi nổi lên đuổi người Pháp, dành độc lập. Vì ông là một nhà cách mạng chống Pháp, nên tên thật, tuổi tác và đời tư của ông được giữ kín, mà có lẽ chỉ các đồng chí gần gũi nhất được biết mà thôi. Các nhà cách mạng hồi đâu thế kỷ đều có hành tung bí mật như vậy, để tránh việc thực dân Pháp điều tra, tìm bắt và phá hoại tổ chức của họ. Tên Lý Đông A là một bút hiệu gồm có họ Lý, tên là hai chữ Đông và A ( theo cách viết bằng chữ Hán Việt: bộ A ghép lại trước bộ Đông là chữ Trần). Hai họ Lý Trần làm vua nước Việt ta từ đầu thế kỷ thứ 11 đến hết thế kỷ thứ 14, và đó là hai triều đại lịch sử huy hoàng, rực rỡ nhất của dân tộc Việt Nam. Trong bốn thế kỷ đó dân tộc Việt đã xây dựng những căn bản của một nền văn hóa riêng, một thể chế chính trị chắc chắn, chống lại bốn cuộc xăm lăng của người Trung Quốc, và mở rộng đất nước về phía Nam thêm từ Nghệ An tới Quang Trị.

Khi chọn biệt hiệu là Lý Đông A, tác giả đã bày tỏ chí hướng muốn phục hưng một nước Việt Nam hùng mạnh và thuần tư tưởng như hai thời Lý, Trần. Lý Đông A lấy biệt hiệu là Thái Dịch, chữ này, theo tư tưởng Không Giáo là chỉ chổ bắt đầu của Vũ Trụ.

Là một nhà cách mạng. Lý Đông A đã viết nhiều sách triết lý và lịch sử, cùng những thơ văn yêu nước. Ông đã dựng lên lý thuyết Duy Tân có tính cách tổng hợp các tư tưởng Đông Phương và Tây Phương để làm chỉ đạo cho viêc xây dựng nước Việt Nam sau này. Ông cũng sáng lập Đảng Duy Tân để tranh đấu chống Pháp trước thời đại chiến thứ hai. Tuy nhiên những tài liệu về lý thuyết và hoạt động của ông hiện nay còn rất ít. Ngay cả việc ông còn sống hay hoặc đã tạ thế như thế nào, chúng ta cũng không biết.

Trích lược, Nguyễn Lonh Hiệp.
Nguyễn Long Hiệp
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:36 am

by Nguyễn Long Hiệp » Thu Jan 23, 2014 10:56 pm

Giây phút chạnh lòng

tặng tác giả “đoạn tuyệt”


Anh đi đường anh,tôi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Đã quyết không mong xum họp mãi.
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi ?

Non nước đang chờ gót lãng du,
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu,
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.

Anh đi vui cảnh lạ, đường xa,
Đem chí bình sinh dãi nắng mưa.
Thân đã hiến cho đời gió bụi,
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ ?

Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều thu đưa lạnh gió heo mây
Dừng chân trên bến sông xa vắng,
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây.

Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề,
Vẫn để hồn theo người lận đận,
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi.

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau,
Em muốn cho ta chẳng thảm sầu.
Nhưng chính lòng em còn thổn thức,
Buồn kia em giấu được ta đâu ?

Em đứng nương mình dưới gốc mai,
Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,
Cười nâng tà áo đưa lên gió,
Em bảo: hoa kia khóc hộ người.

Rồi bỗng ngừng vui cùng lẳng lặng,
Nhìn nhau bình thản lúc ra đi.
Nhưng trong khoảng khắc thờ ơ ấy
Thấy cả muôn đời hận biệt ly.

Năm năm theo tiếng gọi lên đường,
Tóc lọng tơi bời gió bốn phương.
Mấy lúc thẫn thờ trông trở lại
Để hồn mơ tới bạn quê hương.

Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng
Gác tình duyên cũ thẳng đường rong.
Song le hương khói yêu đương vẫn
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng.

Hôm nay tạm nghĩ bước gian nan
Trong lúc gần xa pháo nở ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

Ta thấy xuân nồng thắm khắp nơi,
Trên đường rộn rã tiếng đua cười.
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.

Lòng ta tha thiết đượm tình yêu,
Như cảnh trời xuân luyến nắng chiều,
Mắt lệ đắm trông miền cách biệt,
Phút giây chừng mỏi gót phiêu lưu…

Cát bụi tung trời - Đường vất vả
Còn dài – Nhưng hãy tạm dừng chân.
Tưởng người trong chốn xa xăm ấy
Chẳng biết vui buồn đón gió xuân ?

Thế Lữ - 1936.

Đôi dòng về tác giả: Giây phút chạnh lòng, bài thơ này viết hồi năm 1936. Đề tặng cho Nhất Linh, tác giả tiểu thuyết “Đoạn Tuyệt”.

Nước Việt Nam trong thời gian đó, còn nằm dưới sự đô hộ của người Pháp.

Đây là lời tâm tình , thố lộ của người con gái nói với chàng thanh niên, giả từ lên đường phụng sự đất nước trong thời ly loạn, để đánh đuổi kẻ xăm lăng, giành lại độc lập, tự do.

Quân đội của người Pháp, lúc đó rất hùng hậu, đàn áp khắt khe, để cho người Việt không có cơ hội đứng lên gianh lại chủ quyền, độc lập.

Thế Lữ ( 1907-1989 ). Tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, còn có bút danh Lê Ta, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1907, tại ấp Thái Hà, Hà Nội trong một gia đình Ki Tô Giáo. Ông quê ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông theo người nhà lên sống ở Lạng Sơn từ nhỏ cho đến năm 11 tuổi. Năm 1918, Thế Lữ về sống ở Hải Phòng và từ năm 1925 đến năm 1928 học thành chung ở trường Bonnal (ở địa điểm nay là trường Ngô Quyền). Học đến năm thứ ba thành chung, ông thôi học lên Hà Nội họcTrường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học.

Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự Lực Văn Đoàn,* và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong háo, Ngày nay, Tinh hoa.

Ông mất tại Saì Gòn ngày 3 tháng 6 năm 1989, để lại cho đời nhiều tác phẩm: Mấy vần thơ, Vàng và máu, Bên đường Thiên Lôi, Gió trăng ngàn, Trại Bồ Tùng Linh, Ba hồi kinh dị, Con quỷ truyền kiếp, Lê Phong phóng viên, Gói thuốc lá, Đòn hẹn,

*( gồm 7 người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, và Xuân Diệu )

Trích lưọc, Nguyễn Long Hiệp
Last edited by Nguyễn Long Hiệp on Sun Mar 16, 2014 10:50 am, edited 1 time in total.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:37 am

by Nguyễn Long Hiệp » Sat Jan 25, 2014 11:11 pm

Hành phương Nam


Hai ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay !

Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say!
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu chưa ai may !

Ngươi giam chi lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ tình, chưa trả tròn một món
Sòng đời, thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi ! Buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay
Ngày mai, sáng lạn mầu non nước !
Cốt nhất làm sao từ buổi này

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay.
Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ?

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiên chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giầy cỏ, gươm cùn, ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi !

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
Hát rằng phương Nam ta với ngươi

Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi !
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi !


Nguyễn Bính. Đa Kao, 1943.


Đôi dòng về tác giả: Nguyễn Bính (1918 – 1966). Tên thật Nguyễn Trọng Bính, sinh tại xóm Trạm, thôn Thiện Vinh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh, nay là tỉnh Nam Định).
Thuở nhỏ không được học ở trường, mà chỉ học ở nhà với cha là đồ nho Nguyễn Đạo Bình và cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm. Nguyễn Bính mồ côi mẹ rất sớm. Lúc 10 tuổi theo anh là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống.
Ông bắt đầu làm thơ năm 13 tuổi. Năm 1937, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Những năm đầu thập niên 1940, Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào Nam và đổi tên Nguyễn Bính Thuyết. Năm 1943, vào Nam lần thứ ba gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài Hành phương Nam, tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây…
Năm 1947, ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam bộ. Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ông tập kết về Bắc năm 1955 và làm việc cho Hội Nhà Văn ở Hà Nội. Năm 1956, chuyển sang nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa và tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Năm 1958, bị buộc chuyể về tỉnh nhà Nam Định phục vụ trong Ty Văn Hóa Nam Định cho đến khi mất.

Nguyễn Bính, mất ngày 20 tháng 1 năm 1966, để lại cho đời nhiều tác phẩm như: Lỡ bước sang ngang (1940); Tâm hồn tôi (1940); Hương cố nhân (1941); Mây tần (1942); Người con gái ở lầu hoa (1942); Tình nghĩa đôi ta (1960); Tuyển tập Nguyễn Bính (1984); kịch thơ Bóng giai nhân (1942); truyện thơ Truyện Tỳ Bà (1944)…


Trích lược - Nguyễn Lonh Hiệp.
Nguyễn Long Hiệp
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:41 am

Đây, mũi Cà- mau


A ha ! Đây mũi Cà- mau,
Nơi tận cùng đất- nước;
Nơi ta hằng mơ- ước
Từ bao lâu cho mắt tận nơi nhìn.
Đã bao lần, ta muốn hóa ra chim
Bay suốt dải non- sông gấm- vóc;
Từ miền núi cao về nơi bãi thấp,
Hơn hai ngàn cây-số đất thân- yêu.
Từ ải Nam- Quan khí lạnh, sương nhiều
Đến mũi Cà-mau cát lầy, nắng gắt…

Đây mũi Cà-mau,
Nơi tận cùng đất- nước.
Nơi Cửu-long-giang từ trên cao năm ngàn thước
Hàng năm âm-thầm bồi đắp,
Một triệu năm trăm ngàn thước khối phù- sa…
Mũi Cà-mau, một kỳ- quan của nước Việt-nam ta,
Cứ tiến mãi không ngừng ra biển cả,
Cứ tiến mãi không ngừng từ thượng- cổ,
Và hàng năm xâm- lấn của Long-vương
-Với một ngàn thước rộng bề ngang-
Từ tám chục đến trăm năm mươi thước,
Mũi Cà-mau tiến hoài ra mặt nước,
Biển lùi dần, chinh-phục bởi phù-sa,
Nhìn cát lầy bồi-đắp nước-non ta,
Ta sung-sướng muốn nằm lăn ra đất,
Muốn uống nước đục ngầu chất cát,
Muốn nghiến nhai lá mấm(*)rờn xanh,
Nhìn đất thiêng lòng rộn-rã bao tình
Ta vốc đất mới bồi lên, kính-cẩn
Bọc vào mảnh khăn tay, ta thầm khấn
Cho đất lành bồi-đắp mãi giang-san.
Và nhìn ra xa biển cả, hiên ngang
Ta tính trước khoảng không- gian ta sẽ chiếm.
Mũi Cà-mau là một thanh thần- kiếm
Của Việt-nam chinh phạt sóng cuồng điên.
Nước Việt ta rồi lớn mãi vô biên,
Nhưng không phải như thực- dân chiếm đất,
Mà tấn-công hẳn thiên- nhiên bí-mật,
Mà xông ra biển cả lấp ngàn khơi.
Với hàng năm hàng triệu tấn cát bồi,
Ta thách cả thợ trời thi tạo- tác.
Ta vượt cả mọi công-trình kiến-thiết
Là vì ta có mũi Cà-mau,
Vì chúng ta có sông Cửu nhiệm- mầu !


Bàng Bá Lân,
(trích trong, Tiếng Võng Đưa, 1957)

(*) Mấm, là loại cây ưa đất mặn, lá hơi giống lá cây bần, mọc thành rừng ở mỏm Cà-mau. Đất vừa bồi đến đâu là mấm bắt rễ mọc liền đến đó.

Đôi dòng về tác giả : Bài thơ đươc tác giả đọc trong Hội- Nghị Lưỡng- Niên Thi- Ca Quốc- Tế, lần thứ 11 tại Knokke-Heist, Bỉ Quốc, chiều ngày 1-9-1974.
Biennales Internationales de Poésie, được hình thành nhân một cuộc gặp gỡ trong giới thi-nhân Âu-Châu (Rencontre Européenne de Poésie) tại Knokke, một thành phố trên bờ Bắc-Hải thuộc nước Bỉ, hồi tháng 9 năm 1951, do sáng- kiến của một số thi sĩ Bỉ và báo « journal des Poètes ». Hội-nghị được sự bảo- trợ của nữ-hoàng Fabiola de Belgique và chính- phủ Bỉ, nên không bao lâu đã có tầm-mức quốc-tế quan-trọng về phương-diện văn-hóa. Hội-nghị họp đều đều hai năm một lần tại knokke, vào cuối tháng tám đầu tháng 9. Năm 1974, có 374 đại- biểu của 39 nước tham-dự.

Trích lược - Nguyễn Long Hiệp
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:43 am

by Nguyễn Long Hiệp » Mon Feb 03, 2014 5:40 pm

Tống biệt hành


Đưa người ta không đưa qua sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng.
Ly khách ! Ly khách ! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về, bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai giòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu tươi lắm thay
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt ướt
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thật !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say


Thâm Tâm, viết vào năm 1940.


Đôi dòng về tác giả: Trong khoảng thời gian, những năm 1940 – 1945, những người con trai, những người con gái, phần lớn đều muốn ra đi vì sự nghiệp, vì chí hướng, vì lý tưởng… tại vì đất nước bị nô lệ, bị lầm than, bị đói khổ vô vàng… mỗi ngày xe cam nhông chở xác của những người chết đói đem đi chôn tập thể…
Đất nước ta ở trong giai đoạn đó không có chủ quyền, không có độc lập… Đất nước đang bị nô lệ, bị kìm kẹp, bức bách… Người Pháp đang nắm giữ quyền cai trị…
Những ai có lý tưởng yêu mến dân tộc, yêu thương đất nước… đều bị bắt, bị trói, bị tù tội giam cầm, bị đánh đập rất tàn ác…

Vì những, điêu linh của đất nước ấy nên hình ảnh của một người tráng sỹ kiêu hùng, hiên ngang, không sợ quyền uy, không sợ chết. Xem sự chết nhẹ như áng mây bay, thì hình ảnh tiêu biểu của Kinh Kha được nhiều thanh niên, thanh nữ thời đó tôn thờ, như một thần tượng. “Kinh Kha sống thời Chiến Quốc, cuối đời Xuân Thu vào thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XIII trước Tây lịch, khi ấy có bảy nước đang tranh chấp nhau. Có hai người anh hùng, một người tên Nhiếp Chính, một người tên Kinh Kha. Nhiếp Chính là một anh hùng ẩn thân đời Chiến Quốc đi giết tướng quốc của nước Hàn là Hiệp Lũy, rồi rạch nát mặt, tự vẫn chết để không ai tìm được tung tích. Kinh Kha là người nhận trách nhiệm đi ám sát Tần Thủy Hoàng. Ngày Kinh Kha lên đường, Thái tử Yên Đan tổ chức lễ tiễn đưa rất lớn vì biết rắng người này ra đi sẽ không bao giờ trở lại. Kinh Kha đã lãnh một sứ mạng rất lớn lao là phải giết bằng được Tần Thủy Hoàng, giết bằng được tên bạo chúa”.

Trích lược-Nguyễn Long Hiệp
Last edited by Nguyễn Long Hiệp on Sun Mar 16, 2014 10:49 am, edited 1 time in total.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:44 am


Thề non nước


Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngả bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, vẫn còn thề xưa.

Non xanh đã biết hay chưa ?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.

Tản Đà

Đôi lời về tác giả : Tản Đà (1888-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 ( tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý ), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây ; nay là huyện Ba Vì.

Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân, làm đến Án Sát, và từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu thị Hiền. Bà là đào hát tài sắc ở Nam Định (đào Nghiêm), giỏi văn thơ, có nghệ danh là Nhữ thị Nhiêm. Do ảnh hưởng gia đình, năm 14 tuổi, ông đã thạo các lối từ chương thi phú. Năm 1907, ông theo anh ra Hà Nội, học trường Quy Thức ở phố Gia Ngư. Năm 1909, đi thi hương ở Nam Định bị hỏng. Năm 1912, đi thi khoa Nhâm Tý vẫn hỏng, chán nản bỏ về Hòa Bình uống rượu, làm thơ và thưởng trăng.

Năm 1915, ông lập gia đình. Trong khoảng thời gian năm 1916, gặp cơn túng quẫn, Tản Đà quyết định chuyển hẳn sang nghề cầm bút. Thời gian này ông viết tuồng cho các rạp và được đọc thêm nhiều sách dịch Âu Tây bằng chữ Hán, nhờ đó tư tưởng có nhiều biến chuyển.
Năm 1920, đi du lịch ở Huế, Đà Nẵng, trở về viết truyện <Thề non nước>. Năm 1921, làm chủ bút tờ Hữu Thanh tạp chí. Được sáu tháng, từ chức, trở về quê. Năm 1922, lại ra Hà Nội lập Tản Đà thư điếm, sau tập hợp với Nghiêm hàm ấn quán thành Tản Đà thư cục.

Năm 1925, phong trào yêu nước dấy lên mạnh mẽ, Tản Đà càng nhập thế tích cực hơn. Ông tổ chức một chuyến du lịch vào Nam, gặp gỡ nhiều nhà chí sĩ và viết nhiều bài trên nhiều báo.

Tháng 2 năm 1928, trở về Bắc, rồi lên định cư vùng Yên Lập (Vĩnh Yên), sau xuống Hải Phòng, rồi lại lên Hà Nội. Năm 1933, sau khi An Nam tạp chí bị đình bản, ông chuyển sang trợ bút cho Văn học tạp chí ít lâu rồi về quê ở ẩn.

Cuối năm 1937, chuyển về làng Hà Trì (Hà Đông), tham gia dịch thuật, viết báo. Sau chuyển ra Hà Nội, mở lớp Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng, kiêm cả xem lý số Hà lạc. Ông sống nghèo, không đủ trả tiền nhà phải cùng gia đình dọn về phố Cầu mới.
Trong hai năm 1937 và 1938, ông dịch thơ Đường đăng trên báo Ngày nay, trong đó có bài Hoàng Hạc lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu.

Ông qua đời vì bệnh vào ngày 17 tháng 6 năm 1939.

Trên văn đàn của văn học Việt Nam trong hơn ba thập niên đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩng vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm, với nhiều thể loại. Ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là, « gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại ».

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường ra thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường hay nhất.

Tác phẩm gồm nhiều thể loại. Văn : Giấc mộng con I (1917), Giấc mộng con II (1932), Giấc mộng lớn (1932), Thề non nước (1922), Tản Đà văn tập (1932). Thơ: Khối tình con I (1916), Khối tình con II (1916), Tản Đà xuân sắc (1918), Khối tình con III (1932). Kịch : Tây Thi (1922), Tống biệt (1922). Dịch thuật : Liêu Trai chí dị (1934). Nghiên cứu : Vương Thúy Kiều chú giải (1938), Một số bài báo…

Trích lược - Nguyễn Long Hiệp.
Nguyễn Long Hiệp
Last edited by Nguyễn Long Hiệp on Sun Mar 16, 2014 10:49 am, edited 1 time in total.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:46 am


Côn sơn ca



Côn- sơn có suối nước trong,
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.
Côn- sơn có đá tần-vần,
Mưa tuôn đá sạch ta ngồi ta chơi.
Côn- sơn thông tốt ngất trời,
Ngả-nghiêng dưới bóng ta thời tự-do.
Côn-sơn trúc mọc đầy gò,
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu-dao.
Sao không về phắt đi nào,
Đời người vướng-vất xiết bao cát lầm.
Cơm rau nước lã an thân,
Muôn chung nghìn tứ có cần quyền chi.
Sao không xem: gian tà những kẻ xưa kia,
Trước thì họ Đổng, sau thì họ Nguyên.
Đổng thì mấy vực kim tiền,
Nguyên hồ-tiêu chứa mấy nghìn muôn cân.
Lại chẳng xem: Di Tề hai đấng thánh nhân,
Nằm trên núi Thú nhịn ăn đến già.
Nào ai khôn dại du mà,
Chẳng qua chỉ tại lòng ta sở cầu.
Trăm năm trong cuộc bể dâu,
Người cùng cây cỏ khác nhau chút nào.
Khóc, cười, mừng, sợ xôn xao,
Đang tươi bỗng héo biết bao nhiêu lần!

Nguyễn Trải

Đôi dòng về tác giả: Trong các văn gia buổi sơ Lê, một người nổi tiếng nhất và có nhiều tác phẩm hơn cả là Nguyễn Trải.

Nguyễn Trải, sinh năm 1380, mất năm 1442; hiệu Ức- Trai, người xã Nhị- Khê, huyện Thượng- Phúc (nay là phủ Thường-Tín, Hà- Đông), đậu Thái học sinh năm 21 tuổi (1400 Hồ Quý Ly, Thánh- nguyên năm đầu) làm Ngự sử đài chánh-chưởng. Sauk hi nhà Minh đánh thua họ Hồ và bắt cha ông là Nguyễn Phi Khanh đem về Tàu, ông theo vua Lê-Lợi và tronh mười năm bình định, ông giúp mưu hoạch và giữ việc từ mệnh. Khi bình định xong, ông được đổi lấy họ vua (Lê Trãi), phong tước hầu và làm Nhập-nội hành- khiển (thủ tướng). Năm 60 tuổi (1439), ông về trí sĩ ở Côn-sơn (thuộc huyện Chí-linh, Hải-dương), Năm 1442, vì cái án Thị Lộ (*), ông phải tội, bị giết cùng với cả họ, thọ 63 tuổi.

(*)Đại Bảo thứ ba (1442) tháng 7, chép về cái án ấy rằng: “ Vua Lê Thái Tôn đi tuần du phương đông, duyệt võ ở Chí-linh. Lê Trãi đón mời xa giá, vua bèn đến chơi chùa Côn-sơn là chỗ ông ở… Xưa người thiếp Nguyễn Trãi là Nguyễn- thị-Lộ có nhan sắc và có văn tài; vua nghe tiếng, triệu cho làm Lễ-nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh, nhân cùng với nàng than cận. Đến khi Đông-tuần, xa-giá về đến vườn Lệ-chi (cây vải), huyện Gia-định (nay là Gia-bình) thì vua mắc bệnh sốt. Lộ suốt đêm hầu, rồi vua mất. Các quan giữ bí mật, lén phụng giá về kinh, nữa đêm vào cung mới phát tang. Ai nấy đều nói Thị-Lộ giết vua, bắt nàng giết đi. Giết thừa-chỉ nhập nội đại hành-khiển trí sĩ Nguyễn trãi và chu- di cả họ”

Trích- lược, Nguyễn Long Hiệp
Nguyễn Long Hiệp
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sun Mar 16, 2014 10:47 am

Dang Dở

Khi biết lòng anh như đã chết,
Mây thôi hồng mà lá cũng thôi xanh.
Màu hoa tươi cũng héo ở trên cành.
Và vũ trụ thãy một màu đen tốị

Anh cố giữ lòng anh không bối rối,
Để mơ màng tưởng nhớ phút giây xưạ
Em cùng anh sánh gót dưới bóng dừa,
Một đêm trăng sáng trên đường đá đỏ.

Em nói những gì? Anh còn nhớ rõ,
Nhưng làm sao ? Ai hiểu tại làm sao ?
Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào,
Tình đã chết, có mong gì sống lại!

Anh không trách chi em điều ngang trái,
Anh không buồn số kiếp quá mong manh!
Có gì đâu bướm muốn xa cành,
Anh cứ tiếc cái gì xưa đã chết.

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

Và thành chúc đời em luôn tươi sáng,
Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh,
Như hương trinh bát ngát ý dịu lành,
Hòa nhạc mới chiều dâng tơ hạnh phúc.

Cuộc ly biệt ngờ đâu vừa đúng lúc,
Lòng bâng khuâng, bối rối trước khúc quanh,
Đi không đành, mà ở cũng không đành,
Muôn chim Việt hãy về thành Nam cũ.

Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá,
Nhưng lòng anh đã bình thản lại rồị
Hết đau buồn và cảm thấy sục sôị
Niềm uất hận của một thời lạc lốị

Lấy nghệ thuật làm trò hề múa rối,
Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền.
Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên;
Nàng kiều nữ chốn lầu hoa thầm kín.

Trong khi đó, thanh niên không bịn rịn.
Giã gia đình, trường học để ra đị
Họa xâm lăng đe dọa ở biên thùy,
Kêu gọi lính giục lòng trai cứu quốc.

Thôi em nhé! từ đây anh cất bước,
Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vuị
Đừng buồn thương, nhớ, tiếc, hoặc ngậm ngùi,
Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp


Thâm Tâm

Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 ở Hải Dương. Học ở Hải Dương. Có viết cho các báo : Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: Vườn Thơ Việt Tuyển (moved)

Postby BelleNuit » Sun Mar 16, 2014 10:58 am


Bài thơ cuối ... Dỡ Dang...
nghe rưng rức buồn vậy bạn NLHiệp?! ...Người chọn thơ, ...

Chúc ngày vui & bình an nơi ấy nha
User avatar
BelleNuit
 
Posts: 445
Joined: Wed Nov 30, 2011 1:05 am
I am: Writer

Next

Return to Poetry

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests



www.VomtroiMagazine.com

All Daily News - Tin mới nhất
www.VomTroiMagazine.com 

********

Cám Ơn.Thank You.Merci

Contact us

Vom Troi Magazine

9101 Boul. Maurice Duplessis 
Succ. Rivières des Prairies
P.O. Box 25273
H1E – 6M0 Mtl PQ 
Tel: 514-677-7315

VomtroiMagazine@gmail.com
VNBusinessMedia@Yahoo.com 

_________________________ __________________________
 Supporters **** ****

        


HTML Counter
cron