Board index   FAQ   Search  
Register  Login

*** ***
Click here to go to vomtroimagazine.com
Supporters

thoảng hương sen

Văn chương, Văn xuôi

Moderator: Editor 1

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Wed Mar 16, 2016 8:12 pm

Cosmétique

Trang Điểm, thường hay nghĩ rằng mình không có gì tốt, không có gì đẹp, không có gì thật và hay ho của chính mình. Trang Điểm, cảm thấy mình không hoàn hảo. Vậy, Cô nàng cần phải dùng đến mỹ phẩm (cosmétique) tô điểm khuôn mặt và những đồ trang sức khác, trang hoàn đôi tai, trên đầu, trên cổ, cổ tay, cổ chân,…và còn chịu đựng đau đớn qua những cuộc phẩu thuật thẩm mỹ trong thân để đem đến cái đẹp hoàn hảo cho Trang Điểm,… Cô nghĩ chỉ có thế mới quân bình cái chân thiện mỹ với con người mình.
Khi, Trang Điểm làm những chuyện đó,thì lương tâm cảm thấy rằng nó đang bị lầm lẩn, nhưng Trang Điểm không thể dừng lại được. Vì Cô nàng, cảm thấy rằng mình mới có được một phân nữa người thôi, nên phải chạy một vòng thế giới tìm kiếm phân nữa khác cho toàn vẹn: Không có niềm tự tin, không có chủ quyền đích thực, và lo sợ tiếng chê cười của chúng bạn…của những người chung quanh.
Cũng chỉ là một con người, trong một thời đại hoàn cầu hoá, khó mà tránh được. Nạn nhân của thời đại vậy thôi.
Nếu, là một con người, có hiểu, có biết, có nhìn sâu, có quán chiếu thì sẽ có lúc dừng lại mà biết rằng, cách suy tư, cách hành sử như vậy là một quan niệm sai lầm, nguy hại.
Trang Điểm, muốn tất cả tốt, đẹp, chân thật, là điều mà mọi người đều có thể tin cậy được, và có thể người ta tìm kiếm cái phẩm chất ở nơi người khác mà không nơi tự thân mình. Trong khi, Trang Điểm, nghĩ, tìm thấy chân thiện mỹ ở nơi người khác cho, thì tình yêu thương phát khởi trong lòng và tự nghĩ mình cần phải có sự liên hệ. Rồi, qua một thời gian, Trang Điểm kiểm điểm lại, thấy, không có gì là chắc, thật, không thể nào xuyên thủng qua được cái mục đích của mình ước mong: chân thiện mỹ trong cái thực tế đầy giả tạo này. Thế rồi, Trang Điểm cảm thấy bị tổn thương, rồi lại tiếp tục lên đường tìm kiếm một liên hệ khác, một mục tiêu khác và phóng những ý tưởng về chân thiện mỹ khác…
Đi tìm một liên hệ khác,nó giống như đi vào rừng rậm miền nhiệt đới: “ ở chỗ này, chỗ kia, một thân cây to lớn đâm sâu những rễ ở một chiều sâu không lường đoán được và chống đỡ một vòm lá dầy đặc chìm trong bóng tối; những nhánh nó uốn cong xuống đất rồi đâm rễ vào đất; những dây leo nó bò từ cây này trèo qua cây khác, nó sanh nở thêm người ta không thể tìm đâu đầu mối, hình như bất tận; những cây ngấy (vân tròn ở gỗ) rối rắm; những lá lược (dương xỉ) mỏng mảnh, thanh nhã quí hiếm; những cái bông to lớn, những cái bông lạ lùng rải đầy trên đất, phủ trên đỉnh cây làm thành những cái nóc lửa hay như là cái màn trướng phân đôi giữa hai cành; những vỏ cây sần sùi, đen, nhớt nó cho một cảm giác rùng mình; những cành chết; một thảm mùn dầy cộm thối rữa; khắp nơi một chất nhựa dồi dào, một đời sống sâu thẳm nó làm người ta bị tràn ngập; khó thoát ”.(*)
Ở tâm Trang Điểm, nó cũng vậy thôi. Như khỉ chuyền cành. Trang Điểm, tìm một người thầy xứng đáng, ngồi dưới chân thầy này, quỳ dưới chân một thầy nọ trong một phương trời tìm kiếm. Trang Điểm là một người đi tìm tâm linh, và nhiều đến nổi lòng mình thật vui sướng những người mình gặp thật là chân thiện mỹ. Hình dạng con người thường bên ngoài che phủ một lớp đạo đức và tình thương bởi những loại mỹ phẩm cao cấp của thời đại. Rồi thì, Trang Điểm, cũng tìm thấy một người thầy hướng đạo đáng thương quý và lòng cảm thấy như tìm gặp một nữa mà mình đã thiếu mất.
Nhưng, cũng như bấy nhiêu thầy, người thầy mới của mình biểu lộ không như là sự tiếp xúc với sự đặc biệt của chân thiện mỹ, màTrang Điểm đã khám phá ra nó. Và bỏ. Lại chạy đi tìm lại một vị thầy mới khác. Trang Điểm, luôn luôn có thể sản sinh ra những cái sơ đồ cho một đời sống, luôn luôn kiếm tìm một ai đó để thương yêu, tín cẩn; một ai đó để chỉ đạo cho cuộc đời.
Thế rồi, một ngày nọ, tình cờ có một cơ duyên gặp được một vị thầy rất đặt biệt nói với Trang Điểm rằng: “ không nên tìm kiếm những cái bên ngoài của chính mình. Tất cả những phẩm chất mà con tìm kiếm nó ở trong tự thân con “. Nó chính là vị thầy căn bản chỉ đạo, và nói: “ tất cả mọi loài chúng sinh có bản tính chân thật, trong sáng và hoàn hảo ở nơi bên trong họ. Con chỉ cần trở về nơi tự thân thì con sẽ thấy được cái chân thiện mỹ; chúng đã có đó từ rất lâu trong con”
Ngồi dưới cội Bồ Đề, đức Thế Tôn thấy ra rằng chân thiện mỹ, chính tự thân mọi phải người khám phá ra chúng, và đức Thế Tôn nói : “ Thật kỳ diệu thay, tất cả mọi loài chúng sinh đều có Phật tánh nhưng vì bị vô minh che lấp nên họ không nhận ra điều ấy. Chính vì thế, họ bị trôi giạt trong biển đau khổ kiếp này qua kiếp khác. “
“Vũ trụ vạn hữu trong thế giới đều phát sinh từ tâm thức.” Tâm thức, là những dòng sông cảm thọ ngày đêm thường trôi chảy. “Thức là cơ sở của danh sắc. Danh là tâm nhận thức. Sắc là đối tượng nhận thức.”(**) Nó không thể lìa nhau mà hiện hữu. Mà vì nó thường hằng nên người ta cho rằng nó là thật là chân, là đẹp. Và, người ta đánh giá nó quá cao trong phạm trù tư tưởng. Người ta không biết rằng nó có gốc rễ từ vô minh mà mình đã tiếp nhập : từ nghiệp thức, từ sự di truyền, từ sinh hoạt trong gia đình, từ môi trường sống, từ những nguồn văn hoá và thời đại khác nhau…nó đã tạo thành một lớp vỏ rất dầy trong tâm thức.
Chính vì thế, khi : “ Samiddhi (Tam Di Đề) ngồi thiền định trong một khu rừng và cảm thấy tràn đầy hạnh phúc… tự nhiên Samiddhi nghe một tiếng nổ kinh hoàng. Samiddhi sợ quá. Hôm sau thầy đến kể với đức Thế Tôn tự sự rồi nói : “ Bạch đức Thế Tôn, có lẽ con không nên ở lại khu rừng đó nữa mà nên dời tới một nơi khác. Con rất tiếc vì khu rừng đó rất yên tịnh, ngồi thiền rất thoải mái, nhưng tiếng nổ đã làm con sợ quá “ Đức Thế Tôn bảo : “ Tiếng nổ đó không phải từ bên ngoài đi vào mà từ tâm sợ hãi ở con đi ra. Nó là ma chướng. Nếu con bỏ đi nơi khác thì nơi này cũng có thể lại có những ma chướng khác. Nếu không có tiếng nổ thì cũng có những âm thanh hoặc những hình ảnh khác. Tất cả những thứ đó đều là sự biểu hiện của tâm thức mình. Những nỗi sợ hãi, buồn lo, ganh ghét, hận thù, v.v… đều do tâm mình mà ra. Ngoại cảnh chỉ đóng một vai trò nhỏ. Vậy con nên trở về chỗ cũ để tinh chuyên tu học, đối diện với ma chướng, mỉm cười, gọi tên thật của chúng và hàng phục chúng thì lúc đó con mới thật sự có tự do.”(***)
Sự trốn chạy đối diện với những mặc cảm, hơn thua, ganh gét, hận thù,… nơi tâm thức mình nó sẽ không mang lại niềm an lạc, hạnh phúc chân thật cho mình trong cuộc sống. Mình phải gành lại cái chủ quyền, cái niềm tin, cái bản tâm nhiên của chính mình, thì lúc đó những hơi thở, nghĩ suy, bước chân, mới an nhiên, tự tại, trong cuộc đời này.
Từ đó,s ự tìm kiếm không còn trở lại trong cuộc sống. Nó đã chấm dứt. Đời sống, như một giọt nước đã hoà nhập với dòng sông trôi về biển cả; nó không còn mặc cảm với mây trên trời cao rộng, với đóa hoa thơm tươi, với hạt sương óng ánh trước nắng mai,… nó nghĩ tất cả đều do tâm mà thôi. Tâm tịnh còn đâu những não phiền.


Chân hội đăng, mtl. 15-03-2016
(*) Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens. Léopold Cadière. 1955.
(**) Đường xưa mây trắng. Thích Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. 1992.
(***) Tuổi trẻ lý tưởng và hạnh phúc. Thích Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. 1999.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:05 pm

Cosmétique

Trang Điểm, thường hay nghĩ rằng mình không có gì tốt, không có gì đẹp, không có gì thật và hay ho của chính mình. Trang Điểm, cảm thấy mình không hoàn hảo. Vậy, Cô nàng cần phải dùng đến mỹ phẩm (cosmétique) tô điểm khuôn mặt và những đồ trang sức khác, trang hoàn đôi tai, trên đầu, trên cổ, cổ tay, cổ chân,…và còn chịu đựng đau đớn qua những cuộc phẩu thuật thẩm mỹ trong thân để đem đến cái đẹp hoàn hảo cho Trang Điểm,… Cô nghĩ chỉ có thế mới quân bình cái chân thiện mỹ với con người mình.
Khi, Trang Điểm làm những chuyện đó,thì lương tâm cảm thấy rằng nó đang bị lầm lẩn, nhưng Trang Điểm không thể dừng lại được. Vì Cô nàng, cảm thấy rằng mình mới có được một phân nữa người thôi, nên phải chạy một vòng thế giới tìm kiếm phân nữa khác cho toàn vẹn: Không có niềm tự tin, không có chủ quyền đích thực, và lo sợ tiếng chê cười của chúng bạn…của những người chung quanh.
Cũng chỉ là một con người, trong một thời đại hoàn cầu hoá, khó mà tránh được. Nạn nhân của thời đại vậy thôi.
Nếu, là một con người, có hiểu, có biết, có nhìn sâu, có quán chiếu thì sẽ có lúc dừng lại mà biết rằng, cách suy tư, cách hành sử như vậy là một quan niệm sai lầm, nguy hại.
Trang Điểm, muốn tất cả tốt, đẹp, chân thật, là điều mà mọi người đều có thể tin cậy được, và có thể người ta tìm kiếm cái phẩm chất ở nơi người khác mà không nơi tự thân mình. Trong khi, Trang Điểm, nghĩ, tìm thấy chân thiện mỹ ở nơi người khác cho, thì tình yêu thương phát khởi trong lòng và tự nghĩ mình cần phải có sự liên hệ. Rồi, qua một thời gian, Trang Điểm kiểm điểm lại, thấy, không có gì là chắc, thật, không thể nào xuyên thủng qua được cái mục đích của mình ước mong: chân thiện mỹ trong cái thực tế đầy giả tạo này. Thế rồi, Trang Điểm cảm thấy bị tổn thương, rồi lại tiếp tục lên đường tìm kiếm một liên hệ khác, một mục tiêu khác và phóng những ý tưởng về chân thiện mỹ khác…
Đi tìm một liên hệ khác,nó giống như đi vào rừng rậm miền nhiệt đới: “ ở chỗ này, chỗ kia, một thân cây to lớn đâm sâu những rễ ở một chiều sâu không lường đoán được và chống đỡ một vòm lá dầy đặc chìm trong bóng tối; những nhánh nó uốn cong xuống đất rồi đâm rễ vào đất; những dây leo nó bò từ cây này trèo qua cây khác, nó sanh nở thêm người ta không thể tìm đâu đầu mối, hình như bất tận; những cây ngấy (vân tròn ở gỗ) rối rắm; những lá lược (dương xỉ) mỏng mảnh, thanh nhã quí hiếm; những cái bông to lớn, những cái bông lạ lùng rải đầy trên đất, phủ trên đỉnh cây làm thành những cái nóc lửa hay như là cái màn trướng phân đôi giữa hai cành; những vỏ cây sần sùi, đen, nhớt nó cho một cảm giác rùng mình; những cành chết; một thảm mùn dầy cộm thối rữa; khắp nơi một chất nhựa dồi dào, một đời sống sâu thẳm nó làm người ta bị tràn ngập; khó thoát ”.(*)
Ở tâm Trang Điểm, nó cũng vậy thôi. Như khỉ chuyền cành. Trang Điểm, tìm một người thầy xứng đáng, ngồi dưới chân thầy này, quỳ dưới chân một thầy nọ trong một phương trời tìm kiếm. Trang Điểm là một người đi tìm tâm linh, và nhiều đến nổi lòng mình thật vui sướng những người mình gặp thật là chân thiện mỹ. Hình dạng con người thường bên ngoài che phủ một lớp đạo đức và tình thương bởi những loại mỹ phẩm cao cấp của thời đại. Rồi thì, Trang Điểm, cũng tìm thấy một người thầy hướng đạo đáng thương quý và lòng cảm thấy như tìm gặp một nữa mà mình đã thiếu mất.
Nhưng, cũng như bấy nhiêu thầy, người thầy mới của mình biểu lộ không như là sự tiếp xúc với sự đặc biệt của chân thiện mỹ, màTrang Điểm đã khám phá ra nó. Và bỏ. Lại chạy đi tìm lại một vị thầy mới khác. Trang Điểm, luôn luôn có thể sản sinh ra những cái sơ đồ cho một đời sống, luôn luôn kiếm tìm một ai đó để thương yêu, tín cẩn; một ai đó để chỉ đạo cho cuộc đời.
Thế rồi, một ngày nọ, tình cờ có một cơ duyên gặp được một vị thầy rất đặt biệt nói với Trang Điểm rằng: “ không nên tìm kiếm những cái bên ngoài của chính mình. Tất cả những phẩm chất mà con tìm kiếm nó ở trong tự thân con “. Nó chính là vị thầy căn bản chỉ đạo, và nói: “ tất cả mọi loài chúng sinh có bản tính chân thật, trong sáng và hoàn hảo ở nơi bên trong họ. Con chỉ cần trở về nơi tự thân thì con sẽ thấy được cái chân thiện mỹ; chúng đã có đó từ rất lâu trong con”
Ngồi dưới cội Bồ Đề, đức Thế Tôn thấy ra rằng chân thiện mỹ, chính tự thân mọi phải người khám phá ra chúng, và đức Thế Tôn nói : “ Thật kỳ diệu thay, tất cả mọi loài chúng sinh đều có Phật tánh nhưng vì bị vô minh che lấp nên họ không nhận ra điều ấy. Chính vì thế, họ bị trôi giạt trong biển đau khổ kiếp này qua kiếp khác. “
“Vũ trụ vạn hữu trong thế giới đều phát sinh từ tâm thức.” Tâm thức, là những dòng sông cảm thọ ngày đêm thường trôi chảy. “Thức là cơ sở của danh sắc. Danh là tâm nhận thức. Sắc là đối tượng nhận thức.”(**) Nó không thể lìa nhau mà hiện hữu. Mà vì nó thường hằng nên người ta cho rằng nó là thật là chân, là đẹp. Và, người ta đánh giá nó quá cao trong phạm trù tư tưởng. Người ta không biết rằng nó có gốc rễ từ vô minh mà mình đã tiếp nhập : từ nghiệp thức, từ sự di truyền, từ sinh hoạt trong gia đình, từ môi trường sống, từ những nguồn văn hoá và thời đại khác nhau…nó đã tạo thành một lớp vỏ rất dầy trong tâm thức.
Chính vì thế, khi : “ Samiddhi (Tam Di Đề) ngồi thiền định trong một khu rừng và cảm thấy tràn đầy hạnh phúc… tự nhiên Samiddhi nghe một tiếng nổ kinh hoàng. Samiddhi sợ quá. Hôm sau thầy đến kể với đức Thế Tôn tự sự rồi nói : “ Bạch đức Thế Tôn, có lẽ con không nên ở lại khu rừng đó nữa mà nên dời tới một nơi khác. Con rất tiếc vì khu rừng đó rất yên tịnh, ngồi thiền rất thoải mái, nhưng tiếng nổ đã làm con sợ quá “ Đức Thế Tôn bảo : “ Tiếng nổ đó không phải từ bên ngoài đi vào mà từ tâm sợ hãi ở con đi ra. Nó là ma chướng. Nếu con bỏ đi nơi khác thì nơi này cũng có thể lại có những ma chướng khác. Nếu không có tiếng nổ thì cũng có những âm thanh hoặc những hình ảnh khác. Tất cả những thứ đó đều là sự biểu hiện của tâm thức mình. Những nỗi sợ hãi, buồn lo, ganh ghét, hận thù, v.v… đều do tâm mình mà ra. Ngoại cảnh chỉ đóng một vai trò nhỏ. Vậy con nên trở về chỗ cũ để tinh chuyên tu học, đối diện với ma chướng, mỉm cười, gọi tên thật của chúng và hàng phục chúng thì lúc đó con mới thật sự có tự do. Thầy Samiddhi sau khi nghe lời Bụt dạy, đã trở về khu rừng cũ để ngồi thiền và đi thiền rất tinh chuyên. Thầy đã thực tập đúng theo lời Bụt dạy và mầu nhiệm thay những tiếng nổ không còn phát hiện nữa”. (***)
Sự trốn chạy đối diện với những mặc cảm, hơn thua, ganh gét, hận thù,… nơi tâm thức mình nó sẽ không mang lại niềm an lạc, hạnh phúc chân thật cho mình trong cuộc sống. Mình phải gành lại cái chủ quyền, cái niềm tin, cái bản tâm nhiên của chính mình, thì lúc đó những hơi thở, nghĩ suy, bước chân, mới an nhiên, tự tại, trong cuộc đời này.
Từ đó,s ự tìm kiếm không còn trở lại trong cuộc sống. Nó đã chấm dứt. Đời sống, như một giọt nước đã hoà nhập với dòng sông trôi về biển cả; nó không còn mặc cảm với mây trên trời cao rộng, với đóa hoa thơm tươi, với hạt sương óng ánh trước nắng mai,… nó nghĩ tất cả đều do tâm mà thôi. Tâm tịnh còn đâu những não phiền.


Chân hội đăng, mtl. 15-03-2016
(*) Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens. Léopold Cadière. 1955.
(**) Đường xưa mây trắng. Thích Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. 1992.
(***) Tuổi trẻ lý tưởng và hạnh phúc. Thích Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. 1999.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:07 pm

đi tìm hạnh phúc

Con người, bình thường, ai mà không muốn có hạnh phúc. Vì lòng mong muốn có hạnh phúc, nên phải đi tìm. Đi tìm, thường phải trải qua bao vất vã , cơ cực lắm mới hy vọng tìm thấy được. Như vậy, cái hạnh phúc đó đã suy tính, đã có một kế hoạch, đã vẽ rồi trong một dự án của tương lai. Mà, đi tìm, là một cái gì ở bên ngoài mình, là một khái niệm. Vậy, khái niệm thì không nắm bắt được, không chắc thật.
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta mới rước nàng nghi gia. (*)
Khi hai người có mặt với nhau rồi, chung sống với nhau rồi. Suốt ngày với nhau mà vẫn không thấy có đủ hạnh phúc. Người ta nghĩ phải có thêm, quyền hành và địa vị trong xã hội thì hạnh phúc mới có đầy đủ,trọn vẹn. Từ Hải nói với Kiều như vậy.
Người ta vẫn thường không bằng lòng với những gì hiện có trong tay. Vẫn muốn tìm thêm mới yên vui, mới đủ hạnh phúc.
Hạnh phúc, mà người ta dày công , vất vã, xây dựng bằng những vật chất, danh vọng, uy quyền là thứ hạnh phúc ở bên ngoài, là những con sóng rượt đuổi nhau. Đó chỉ là cái thành quách, là lớp vỏ bao che để gìn giữ cái tôi, xây cái ngã. Cũng như ôm một gói châu báu, ngày đêm trong lòng, mà lo, mà sợ, ăn ngủ không yên. Rời ra thì sợ mất.
“…không gian như có dây tơ, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tan…”. Mong manh quá.
- Cô hai Bê, lo làm lu bù, không kể ngày giờ. Ngày ở hãng, tối ở nhà, lúc nào cũng bận rộn, lăng xăng. Nói rằng, bây giờ còn trẻ không lo làm, mai mốt già làm sao còn sức mà làm được nữa. Già sẽ khổ lắm, sẽ không thoải mái, không có gì để hưởng, làm sao có hạnh phúc.
- Còn anh Năm A, làm việc ngày đêm, bôn ba qua nhiều nước… để có cơ ngơi vững chắc. Anh nghĩ, phải có địa vị trong xã hội, có tiền nhiều du lịch khắp nơi, ăn ngon ,mặc đẹp,…như thế mới là sự thành công của một một người, và như thế là xây dựng cho cuộc sống hạnh phúc vững chắc.
- Một người trông sang trọng, lái chiếc xe đắc tiền. Tới ngã tư đèn đỏ, ngừng chờ. Rồi đèn vàng, rồi đèn xanh,… ngừng đó không đi, mắt nhìn đèn mà không thấy. Tâm đang tìm, tâm đang nghĩ những điều gì khác nữa, mới nữa… tâm, có bao giờ muốn dừng đâu. Vì không biết đủ.
Đó là cuộc đua, những thứ hạnh phúc ước lệ, đã định của xã hội hiện đại. Con người, như trở thành một tế bào của guồng máy vật chất để chế tạo ra những sản phẩm xây dựng hạnh phúc.
“ Con người sống trong xã hội hiện đại, phải làm rất nhiều việc mỗi ngày. Họ phải dậy thật sớm. Họ phải lấy xe buýt hay quá giang với người bạn cùng sở hay cùng tuyến đường. Nhớ, phải thật đúng giờ. Họ phải liên lạc với bạn qua điện thoại hay e-mail hay nhắn tin qua facebook hay gởi tin qua điện thoại…để sắp xếp chương trình của cuối tuần. Nhiều thứ lắm, nhiều lắm, rất có thể phải quên thứ này, cái nọ hay người này, kẻ kia,…Nên máy móc, điện thoại ngày nay người ta thiết kế rất tiện nghi đầy đủ: có sổ ghi chú, có lịch ngày tháng giờ và đồng hồ báo hiệu cho mỗi thứ việc,…thiếu nó, chắc chắn sẽ bị quên. Con người hiện đại, rất bận rộn ban ngày đã đành; đêm về, chưa nghỉ được, vì còn phải đi chợ trên internet: e-bay, amazon,… Đây là những cái chợ hoàn cầu, không thiếu gì hết. Hàng giao tận nhà, miễn phí. Họ phải luôn luôn lên danh sách những sinh hoạt của mỗi giờ, cho mỗi ngày. Trong sở làm, có thư ký xếp sẵn thời khóa biểu cho cả tuần, cả tháng trước… Những nhân viên đi làm xa, phải lấy chỗ ở khách sạn trước cả một năm, hai năm cho những cuộc họp.v.v…”.
Đây là một chiếc máy khổng lồ của thời đại. Nó tạo ra nhiều hình ảnh, tinh vi, hào nhoáng, hấp dẫn như: Xe tân kỳ, đầy đủ cho mọi nhu cầu. Nhà tiện nghi, tráng lệ, máy móc hiện đại, bền tốt… Mọi sản phẩm được giới thiệu đầy đủ mạch lạc, rõ ràng, chất liệu tốt, được so sánh kỹ lưỡng, hãy an tâm nhé…làm cho tai nghe, mắt thấy, tâm hồn say đắm mà chạy theo tìm kiếm. Bỏ hết năng lực để xây đắp tài vật, quyền lực, địa vị, cho hạnh phúc trong tương lai.
Truyện Kiều, có lẽ Nguyễn Du sáng tác vào khoảng từ năm 1813 đến năm 1815 hay 1816. Tính đến nay cũng đã 200 năm, mà Cụ đã vẽ lên cái bối cảnh của xã hội thời đó, vậy mà cho đến nay, ngẫm lại, nó vẫn còn sống động trong thực tại của xã hội hôm nay.
“ Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.”(*)

Hình ảnh của một cổ xe thế kỷ văn minh hiện đại, mang người ta đi trong cõi mịt mù, bụi hồng, trần thế về tương lai. Để xây dựng cái lâu đài hạnh phúc bằng vật chất. Đi, mà không biết đi về đâu.

“… Trong kinh Người Bắt Rắn, đức Thế Tôn đã ví dụ năm dục như một khúc xương trần, như bó đuốc cầm ngược gió. Con chó đói được người ta liệng cho một khúc xương trần không còn dính chút thịt nào, cứ gặm hoài mà không bao giờ thoả mãn được cơn đói của nó. Cũng vậy, <đi tìm hạnh phúc> trong năm dục ta cũng không tìm thấy sự thỏa mãn. Ấy vậy mà ta cứ tiếp tục chạy theo năm dục không bao giờ biết chán, như con chó cứ tiếp tục chạy theo khúc xương trần mà gặm. Năm dục cũng như bó đuốc cầm ngược gió làm cháy phỏng tay của ta...”.(**)


Chân hội đăng, Mtl. 25-01-2016 .
(*) Truyện Kiều, Nguyễn Du. Trích trong, Thả một bè lau. Nhất Hạnh. NXB, Lá Bối 2000.
(**) Trích trong, Tuổi trẻ lý tưởng và hạnh phúc. Nhất Hạnh. NXB, Lá Bối 1999.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:09 pm

Pháp không lời

Thế giới ngày nay, nó có cái nền tự do, dân chủ, hoàn toàn đi riêng rẽ ngoài cái nền giáo dục và luật lệ của nhà nước (hay là, cùng chung mà không cần quan tâm, hay có quan tâm mà không đủ quyền lực…?). Kinh tế là sức mạnh, quyết định tất cả. Cho nên những người làm kinh tế họ có cái tự do, dân chủ nên họ làm ra nhiều sản phẩm độc hại, giết hại cho cả những thế hệ trẻ của tương lai : súng đạn,xì ke ma tuý, game… Những thanh thiếu niên ngày nay đã chết rất nhiều vì, súng đạn, vì, xì ke ma tuý, vì, những lý tưởng mù quáng, vì, game. Không có một cái game nào mà không có (có mà thật là ít) đánh đá, chém, giết bằng đao kiếm, dao búa, bằng súng đạn; người với người chết với nhau hằng loạt, máu me phun vọt, tưới đẫm đầy người, đầy đất. Từ một em bé ba tuổi đã biết chơi mà không biết sợ, không biết thương sót. Nhân tính con người đã bị chay cứng, thần kinh cảm giác không còn rung động nữa. Đôi mắt và cái đầu chỉ có một hướng. Tìm kẻ thù để giết nhau làm trò giải trí. Kẻ thù tự mình mình dàn dựng lên, để giết… như bao vụ thảm sát bi thảm hàng loạt trong các trường học, khách sạn,… gần đây ở Gia Nả Đại, ở Hoa Kỳ, ở Pháp, v.v…
Tâm người thiếu sự an lạc, thảnh thơi. Thiếu niềm tin. Bước chân người vội vàng hấp tấp; suy tư hời hợt, không có thì giờ để lắng nghe, để hiểu một câu hỏi lắp bắp, tìm đường, hay khó khăn trong một tiệm thuốc… : Câu trả lời gọn nhất. Không biết, hoặc, không có. Ngày hôm nay, người ta tranh nhau sống bằng giờ, bằng phút, phải vậy thôi. Le système philosophique của thời đại hiện đại : Tiền.
Sống nhanh và vội vã như thế, nó không khác gì mình đang ngồi trong một toa xe tốc hành đang đi trên con đường cao tốc, người hành khách nhìn qua khung cửa chỉ thấy cảnh vật bị giật lùi một tốc độ kinh khủng, làm hình dáng bị lu mờ, méo mó. Không thể nhận diện được cái pháp thật, linh động mầu nhiệm không lời đang thuyết pháp.
Thời gian nào đẹp nhất, đáng sống nhất ? - Là, khi người ta biết sống, thật sống trong phút giây hiện tại.
Hình ảnh hai ngọn tháp xây bằng gạch phủ men trắng mà thiền sư Huyền Quang đệ tam tổ Trúc Lâm đời Trần có đề cập đến trong bài thơ vịnh “Diên Hựu Tự” dưới ánh trăng thu như sau :
“Thượng phương thu dạ nhất chung lan
Nguyệt sắc như ba, phong thụ đan
Xi vẫn (chi vẫn) đảo miên phương kính lãnh
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn”
T.T.Băng Thanh dịch:
Chùa khuya một tiếng chuông lan
Trăng thu trải sáng lá bàng thắm cây
Máy chùa “chim thú” ngủ say
Bóng nghiêng hồ lạnh như bày mặt gương.(1)
Một biểu hiện của pháp thật không lời. Chỉ những ai thật sự đang mở lòng và thong dong tự tại, trong cõi ta bà, mới lãnh hội được, cái đẹp tuyệt vời của thiên nhiên toả chiếu.

Một hình ảnh uy nghiêm, thanh tịnh nó cũng chuyển hoá cõi lòng đầy lo âu, trắc ẩn. Nhờ trong tâm thức ta có,51 tâm hành có một tâm hành tên là “tác ý”. Tác ý tức là khởi tâm để ý tới một đối tượng nào đó. Trước đó chúng ta chưa chú ý tới, bây giờ chúng ta thấy, nghe một điều gì đó (một đối tượng) làm cho ta chú ý tới, đó gọi là tác ý. Tác ý mở đầu cho một “niệm”. Niệm, là nhớ nghĩ. Chánh niệm, là luôn luôn thắp sáng ý thức vào đối tượng để quán chiếu. Như vậy khi chúng ta thấy một mái chùa, một đoá hoa, một tượng Phật hay nghe một hồi chuông, hay thấy cảnh hồ thanh tịnh,… thì những hình ảnh, âm thanh đó hay hương vị thơm ngát của núi rừng là những pháp không lời, đó chính là chúng ta “như lý tác ý”, nhớ nghĩ đúng với vẽ đẹp trang nghiêm mà chuyển hoá thân tâm được an lạc thảnh thơi.
Một bước đi vững chãi, một cử chỉ nhẹ nhàng, một cung cách khiêm cung, một nụ cười, một búp sen tay chào nhau,… đó cũng chính là những pháp không lời.
Tiếp nhận và thưởng thức được pháp không lời, thường là người rất tự do, thảnh thơi, không vướng bận. Người luôn vững chãi trong chánh niệm, thật sống trong phút giây hiện tại, mới thấy được, mới hiểu đươc. Họ đi trên những con đường thanh vắng, họ tiếp xúc được với những rừng cây xanh tươi, họ lắng nghe được tiếng chim hót, họ cảm giác được luồng gió mát, họ thấy được mây trắng thong dong,… họ biết, họ nghe được những pháp mầu nhiệm đang hiển bày, đang thuyết pháp. Những pháp không lời, mà vi diệu. Khi lòng tịnh yên mở ra, tiếp xúc được thì thân tâm như những hạt sương mai chờ ánh dương hồng vừa lên là hoà nhập vào cõi không mênh mông.

Mai vàng, trúc tím, biểu hiện chân như. Nhưng mà. Rong rêu, cỏ dại cũng là chân. Như thế, các pháp đều mầu nhiệm như nhau. Không có pháp nào trên, cũng không có pháp nào dưới. Chính vì thế, không chỉ ở chùa, nhà thờ, đền thờ và trên các pháp tòa cao rộng mới có những pháp ban cho, mà bàng bạc khắp cùng, từng giây, từng phút, trong thế giới vũ trụ cho pháp. Pháp không lời: mây, mưa, nắng, gió, sóng, nước, cỏ, hoa, cây, lá, bốn mùa, xuân hạ thu đông… Như :
« Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng… Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã : trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần… » « …khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báo thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ây mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng… » Đó là nước Bụt A Di Đà. Là cõi Tịnh độ.

Nhưng mà, ở cõi Hồng trần của chúng ta cũng không thiếu những hàng cây rất đẹp trong bốn mùa và cũng không thiếu những con chim đủ màu sắc rất kỳ diệu. Chỉ có thiếu những tấm lòng thảnh thơi. Chỉ có thiếu những mắt nhìn sâu rộng. Chỉ có thiếu tai biết lắng nghe.
Nếu có đủ, thì ta bà cũng là tịnh độ. Ở đâu cũng là quê hương.


Chân hội đăng, Mtl. 19-03-2016
(1)kiến trúc Phật giáo Việt nam. Nguyễn Bá Lăng.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:10 pm

Cái đèn


Cái đèn dầu tôi có được, không phải là lampe de transmission của một vị thầy trao truyền cho một người đệ tử có khả năng, giỏ, thông minh. Đã tiếp nhận trọn vẹn những giáo pháp của thầy mình dạy cho. Vâng, cái đèn này thuộc loại bình thường. Mà, người ta có bán đầy dẫy, ở các tiệm. Vẫn thắp sáng lên được như bao cái đèn khác, vậy thôi.
Nhưng, đứng ngắm nhìn, suy nghĩ sâu rộng ở một khía cạnh spirituel, thì nó có khác nhiều so với cái lampe de transmission. Lampe de Transmission: Có, truyền thống hơn. Có, linh thiêng hơn. Có, cao quí hơn. Và, có nghĩa tình thầy trò hơn.
Nếu, có những ai, nằm trong vị trí trùng hợp này, xin đừng vội hiểu lầm. Hiểu lầm là, tôi có tâm ganh ghẻ. Không, tôi không có những ý nghĩ không đẹp cho nhau, như vậy. Và, tôi cũng không có ý nghĩ rằng trong tôi có cái gì sáng, đẹp, như cái đèn thường tỏa sáng. Cái đèn này nó giúp, trong những khi coupe điện. Tôi thắp lên, thì nó sáng cả một cái phòng nhỏ của tôi. Còn tôi, tuyệt nhiên, không tỏa ra được một tí ánh sáng nào hết.
Thế thì, tại sao tôi lại phải nói về cái đèn tầm thường này, để làm chi ?
Xin thưa, tôi chỉ mượn cái hình tướng, cái nhân duyên đặc biệt của cái đèn này để nói lên những cái đặc tánh mầu nhiệm và những phép lạ trong cuộc đời. Vì, tướng thì người ta có thể trông thấy đươc như: Tướng người, thú vật, cây, lá, hoa,… Mà, tánh thì người ta khó trông thấy lắm: Tánh người, vật, nước, cỏ cây,… Tánh không có mùi vị, không có màu sắc, không có khái niệm được. Tánh, người ta có thể tiếp nhận bằng tâm thức, bằng năng lượng hiểu biết, bằng giao cảm, bằng đức tin và tấm lòng thương yêu chân thật.
“… năm nọ chị sư cô Chân Không đang bị hấp hối trên dường bệnh tại bệnh viện ở Mỹ. Cái lá gan nhân tạo của chị của sư cô đã bắt đầu bị hư sau hơn ba năm hoạt động. Trong giờ phút lâm chung, bà đau đớn khôn xiết. Cuối cùng bà rơi vào cơn hôn mê; chồng bà, con cái của bà và các bác sĩ, y tá đã cố gắng làm đủ cách để làm thuyên giảm niềm đau nhức trong bà nhưng đều bó tay. Trong cơn đau quằn quoại, bà vặn vẹo, rên rĩ và khóc than không ngừng. Sau đó sư cô Chân Không tới, sư cô biết mình không thể nói chuyện được với chị của mình vì chị đang ở trong cơn hôn mê trầm trọng. Tuy thế, sư cô vẫn biết cách giúp chị của mình. Sư cô biết chị của mình từ nhỏ thường ưa tới chùa nghe các thầy, các sư cô tụng kinh, niệm phật và những hạt giống ấy đã được gieo trồng trong tâm thức của chị từ nhỏ. Sư cô đã mang theo mình cái băng cassette niệm danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm do các thầy, các sư cô Làng Mai niệm và mở lên cho chị nghe. Sư cô đặt ống nghe vào tai của chị mình rồi tăng âm thanh lên thật lớn. Mầu nhiệm thay, sau đó khoảng ba mươi giây, phép lạ đã xẩy ra, chị của sư cô trở nên yên bình trở lại và từ lúc đó cho đến giây phút lâm chung, bà không còn khóc rên hoặc vặn vẹo nữa.”(1)
Như những chuyện trên đường vượt biển: - Chuyến tàu vượt biển boat number VNKG-0483-9379, năm ngày đêm lênh đênh trên biển, không thức ăn, nước uống. Bị hải tặc Thái Lan tấn công cướp của 7 lần. Và, lần cuối cùng, bọn hải tặc đập mui tàu để gỡ lấy máy tàu, rồi kéo tàu ra khơi bỏ cho chết đói, chết khát… nhưng, có phép lạ mầu nhiệm làm gió đẩy tàu vào bờ và hơn 50 người được sống yên lành trở lại. Một chiếc tàu nhỏ xíu, chứa hơn 50 người, đi qua đại dương. Nhìn như, chiếc lá tre bập bềnh trên biển cả. Còn sống là một phép lạ ?
Chuyện anh Chân Sinh. Anh, bị ung thư đến thời kỳ nguy kịch. Nhà thương, bác sĩ đã chịu bó tay và cho anh về nhà, chờ ngày… Nhờ có niềm tin vững chãi vào công phu tu tập, thở có chánh niệm, tập buông bỏ những lo phiền, tiếp xúc, tưới tẳm lại những hạt giống an lành, hạnh phúc trong anh. Sống, yên bình trong giây phút hiện tại, dần dần anh hồi phục lại sức khoẻ, sống vui vẽ, tin yêu với cuộc đời được gần mười năm. Ở bệnh viện, các bác sĩ, người thân trong gia đình, đều rất ngạc nhiên.
Và còn nhiều phép lạ khác nữa đã và đang xảy ra chung quanh chúng ta.

Bây giờ, để trở lại nói về phép lạ của cái đèn, mà tôi có được. Tôi vốn là người đi làm những công việc sửa nhà cửa. Đập phá những căn phòng: Nhà bếp, nhà tắm; gyproc, ciment, céramique và béton… rồi, có khi mang đem đổ ở những vựa rác của thành phố. Trong đó, người ta chia thành nhiều khu rác khác nhau: thùng gỗ; thùng ciment, béton, céramique; thùng tạp nhạp… chúng tôi bỏ hết các loại đồ nhẹ trước, rồi đi đến thùng béton, céramique; vừa đến là lo ném gạch đá xuống, bỗng dưng tôi phát giác, có một vật lạ chói sáng bởi phản chiếu ánh mặt trời. Tôi ngừng tay ném, leo xuống coi cái gì. Thì ra, một cái đèn dầu: có óng khói, có bấc, có đồ vặn bấc còn tốt, bình chứa dầu c ũng kh ông b ị nứt, tất cả còn nguyên vẹn. Ai ? - để nó ở đó, như chờ một người nào đó đến mang nó về. Tôi lượm, mang về. Tôi lấy dầu, rót vào bình, rồi để kế bên bức tượng Phật trên bàn thờ. Tôi chưng trên bàn thờ, thỉnh thoảng tôi thắp lên trông ánh sáng của đèn mà nghĩ về những điều lạ, rất lạ, hiện hữu chung quanh ta: mắt không thấy, tai không nghe, tay không sờ chạm được, những phép lạ. Nhưng, đang có đó. Thật mầu nhiệm.
Trong đời người, có những lúc trầm lắng, nhắm mắt lại nghĩ… Tôi chắc rằng, ai ai cũng ít nhất đôi ba lần, đã nhận được những phép lạ, trong cuộc đời mình. Thường, với những người có đức tin, có niềm tin, về, những mầu nhiệm, những phép lạ,thì, trong cuộc sống của họ như vững vàng hơn, tự tin hơn, họ không có những lo sợ vu vơ. Họ bước qua những khó khăn mà không chùn bước.
Tôi có được nghe một vị Hòa Thượng đáng tôn kính nói: Mặc dầu tôi đi tu lâu năm rồi, mà trước khi tôi làm một việc gì, tôi cũng thường niệm Nam Mô Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm gia hộ sức, trí, cho con; bởi con vẫn còn yếu kém. Thật là một niềm tin vững chãi ở năng lượng từ bi nhiệm mầu luôn có cùng khắp trong các cõi.
Trong kinh Mười Nguyện Phổ Hiền còn ghi lại những lời kinh rất cao đẹp, rất tràn đầy đức tin như:
“……
Trong hạt bụi có vô số Bụt
Mỗi vị an trú chúng hội mình
Đức tin của con vẫn tràn đầy
Trong mọi hạt bụi của pháp giới
……
Con đem tâm hiểu biết rộng sâu
Tin tưởng chư Bụt trong ba đời
Con nương sức hạnh nguyện Phổ Hiền
Cúng dường khắp hết các Như Lai
……”
Thế giới vật chất, chỉ nuôi dưỡng hình hài. Nhưng nếu, con người lạm dụng nó quá đáng; và xem nó như một phương tiện bất khả phân ly; và chỉ có vật chất mới xây dựng được hạnh phúc cho con người. Thì người ta sẽ đau khổ. Và khi khổ đau tràn ngập, không lối thoát, mất niềm tin, trong cuộc sống, thì, người ta cũng chỉ có một con đường là, đi tìm sự cầu cứu ở tâm linh, mà thôi. Và mới thấy, tâm linh mới là nền tảng xây dựng sự an lạc và hạnh phúc.


chân hội đăng, mtl. 22-03-2016
(1) Hơi thở nuôi dưỡng, hơi thở trị liệu. Thích Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. Ca. 2010. Trang 347, 348.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:12 pm

lưỡi câu

Nếu con cá có cái nhìn sâu, hiểu rộng, trước một con mồi kiều diễm, thơm ngon, béo bổ, lởn vởn, quyến rũ, trước mắt nó, rằng: Bên trong con mồi kia, có một lưỡi câu, thì cuộc đời nó chắc chắn được cứu sống, thảnh thơi và có tự do.

Nếp sống của con người, ở mọi nơi, ở mọi thời đại luôn luôn có sự thay đổi. Như dòng sông ngày đên trôi chảy.
Vâng ! Những con người sinh hoạt trong đó, người ta gọi tên nó là: Nếp sống văn minh. Nền nếp, văn minh là những lớp, là thứ bậc, như: Từ một, hai, ba, bốn, năm,… Vậy, đời sống con người là một cuộc leo thang,… đã leo, đang leo, cho đến hôm nay là 2016; không biết người ta đã leo đến bực thứ mấy của cây thang, ở chiều lên cao. Hay bực thứ mấy, của chiều đi xuống ?
Nhưng, nhận thấy cho đến nay. Theo tôi, trong kỹ thuật thương mãi, người ta leo khá xa, hay xa lắm. Họ biết tinh luyện ngôn ngữ một cách tinh vi và kỹ thuật quảng cáo thật quyến rũ, đến nỗi, người ta không cần đến món đồ đó mà vẫn phải mua về để đó. Thật siêu đẳng, quyền lực của chữ nghĩa.
Đã có một lần nào đó, lâu rồi, tôi đi nghe một buổi nói chuyện về kỹ thuật quảng cáo của một vị giáo sư dạy ở trường đại học McGill. Một buổi nói chuyện, dài cả giờ đồng hồ; ông kể nhiều vấn đề tỉ mỉ về những phương pháp tinh vi trong nghành quảng cáo. Quảng cáo, không phải chỉ những người biết buôn bán ngồi bàn bạc với nhau rồi cậy đăng trong các tờ báo, ti vi. Không như vậy đâu. Họ làm nghề kỷ nghệ đánh cá lớn, họ dùng đến những tàu bè thật lớn để đi biển đánh cá, chứ không phải mấy chiếc xuồng bé tí teo, trong rạch. Phương pháp của họ, phải trưng dụng đến những người bác sĩ chuyên khoa về não bộ, những bác sĩ chuyên khoa về tâm lý học, những người chuyên môn về nghiên cứu thị trường, những người chuyên môn về thời trang qua từng thời đại, những người chuyên môn về thiết kế kiểu mẫu thời trang và những người có tài năng về mỹ thuật, màu sắc… nghiên cứu thật kỹ càng vào những mùa nào rồi mới tung ra thị trường. Có nghĩa là làm được cái chìa khóa để mở cái cánh cửa tâm thức của con người. Như ánh sáng cái đèn hút cái thấy của những con thiêu thân.
Người đánh cá chuyên nghiệp, canh đúng con nước, thời tiết, trăng gió, nóng lạnh, nắng mưa… mới tung mẻ lưới chính xác. Hốt toàn bộ đàn cá đang rong chơi.
Đây là một đống chữ, clef, để mở cửa, để đi ra, đi vào, tự do, nơi tử cấm thành lòng người: Liquidation, vente en faillite, vente de fermeture, vente 30% jusqu’à 90%, mua một món hàng giá là 25$ cho lại một phiếu tiền 25$ tức thì. Ai biết được đâu, tiền đó không phải của mình, lấy phiếu đó thì mua một món hàng khác trong tiệm. Có nghĩa là tiền của ai, hoàn lại cho người nấy. Thế là, đem đồ chất một đống, chiếm hết không gian trong nhà.
Đó là những ma thuật chơi chữ, quyến rũ, có móc lưỡi câu bên trong. Ai ham là bị móc.
Vô số kể, những con cá ”người” bị móc lưỡi câu: Có một chị H nọ, gần như lúc nào rảnh rang là đi shopping. Nên, căn phòng chị ở,quần áo giầy dép nhiều hơn một shopping. Tất cả garde robe đầy ắp đồ đạc và ngay cả phòng ngủ của chị nó cũng đầy đồ cho đến trần nhà và giường ngủ chỉ còn lại khoảng 40 cm để nằm. Còn rất nhiều đồ còn nằm yên trong bao của tiệm, chưa mở ra.
Có một anh D kia cũng vậy, ở một cái app. 3-1/2 mà đồ đạc cũng đầy ngập trong các phòng. Trong căn phòng giờ đây chỉ còn lại một lối mòn nhỏ để đi. Đi lại phải rất cẩn thận từng bước chân. Một người mà có hằng trăm cái áo chemises, hằng trăm cái quần và bốn, năm chục đôi giầy.
Anh Q, vô tình xem tờ báo local, trong mục quảng cáo có hàng chữ to, nổi bật, đánh vào mắt, vào đầu, một cái choáng váng. Zeller vente fermeture. Anh lên xe phóng một mạch đến hiện trường. Anh thấy thật hấp dẫn, đồ bán giá như cho. Anh điện thoại cho một người bạn mang xe van tới chở về, mặc dầu những đồ nầy anh chưa biết phải làm gì, nhưng cứ hốt đem về cái đã. Tính sau. Nhà anh có một sous-sol rộng, bây giờ như một bãi chiến trường, không dễ gì đi lại được,…
Và còn nhiều, nhiều người như thế nữa, mà tôi không thể kể hết ra đây, e rằng hết mực, hết giấy. Uổng.
Chỉ nói sơ lược, điển hình, vài người bình thường, nhà nghèo, vậy thôi. Chứ còn đi loanh quanh, đến những người giàu có hơn thì kinh hoàng hơn thế nữa. Những người này, tôi chỉ hí sơ một mép màn của quần, áo, giầy dép, mắt kiếng, túi sắc tay,…tên tuổi nổi tiếng như: Louis Vuitton, Versace, Armani, Giorgio Armani…..Thí dụ như một cái sắc tí xíu, đeo nhổng nhảnh trên vai, có những cái phải trả đến hai ngàn dollar US, hoặc hơn, vậy mà có bà ấy có đến hằng chục cái trở lên. Đó là chưa hí hí nhìn qua mấy cái garde robe khổng lồ, áo quần đồ soirée, giày cao gót. Còn thế giới của các ông thì cravat,ceinture, chemise, giầy,… giá từ vài trăm dollar trở lên, mà nhiều không kể xiết.
Khi có dịp lang thang qua mấy phố đồ xộ, sang trọng cho giới nhà giầu, thấy tiệm nào cũng lớn, cũng cao và có đời sống rất lâu và rất khoẻ.
Vào những ngày trời nóng, oi bức, tôi ra ngoài trời hóng mát, kiếm một chút gió phe phẩy cho đỡ. Đứng ngắm nhìn những cái đèn đường gục đầu soi, toả ra ánh sáng vàng vọt, hắt hiu, tôi nghĩ, bóng đèn khoảng 500 watt, im lìm đang thiêu đốt bao nhiêu con sinh vật nhỏ bé; thấy ánh sáng lao vào mà chết. Chết không kịp trối trăng. Người ta, thường hay gọi những sinh vật ấy là con thiêu thân.
Tôi thắc mắc; trong cái tưởng, cái thấy, cái biết, của những con “thiêu thân” về ánh sáng cái đèn như thế nào mà hàng ngàn…con một lúc phóng vào, để chết ?
À! Mà người ta, cho rằng những sinh vật nhỏ bé kia không trí, không biết, không suy nghĩ. Vô tình. Nên chúng nó chịu chết, vậy thôi.
Vậy. Còn, con người có tri thức, có hiểu biết, có nghĩ suy… tại sao cũng cứ mãi trôi lăng trong biển đời tham khổ. Phải chịu nằm co trong mẻ lưới. Phải chịu ngậm cái lưỡi câu, đong đưa trong cuộc nhân sinh ?


Chân hội đăng, mtl. 26-03-2016.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Mon Apr 04, 2016 7:13 pm

đốt đồng
Ai ơi nâng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.(1)

Ba tôi, má tôi, là người nông dân. Ông bà tôi cũng là nông dân. Tám anh em chúng tôi được sinh ra và lớn lên nơi đồng ruộng; không làm gì, ngoài nghề nông. Đã nhiều đời đứng trên mảnh đất nầy, làm nông dân. Như vậy người ta thường gọi chúng nó là: “nông dân nòi”.
« Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quãng công
Chừng nào ngọn lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn »

Ruộng đồng, con người, gia súc và văn chương bình dân như những chiếc bánh xe răng cưa đồng hồ ăn khớp với nhau, tạo thành một dòng lịch sử xuyên suốt trên đất nước có nền văn hóa nông nghiệp, thật đậm đà tình tự dân tộc. Thơm, ngon, như cây lúa luôn luôn bám sâu rễ vào lòng đất.
Ngồi yên tịnh, trong tỉnh lặng, tôi hồi tưởng về cái tuổi lên năm, lên bảy,… xa lắc xa lơ. Đã, hơn năm mươi năm về trước.
Nơi một làng quê nhỏ kia, có một gia đình nọ, sống quây quần dưới mái nhà lá, nền đất. Có một em bé, năm sáu tuổi mà rất rành rọt trên chiếc xuồng đi vớt lục bình trên sông cho heo ăn. Biết bơi chiếc xuồng qua sông mua tí dầu, tí muối, tí đường, đi bắt cua, đặt lợp… giúp má, giúp ba. Tuổi thơ ngày xưa là vậy. Sống với trời đất, sông nước, mênh mông, với xuồng ghe và với mái chèo, mái dầm trong tay, theo nhịp sống xóm làng. Chơi, thì chơi với những con dế, con cá lia thia, tạc lon,… rất đậm đà với bạn hàng xóm, với thiên nhiên.
Tình quê hương, ruộng đồng còn nồng thắm trong trí nhớ, nhờ những buổi sáng còn lờ mờ trong sương, đã lo ăn vội chén cơm, chén xôi, hay chén bắp cho no bụng, rồi xuống xuồng, còn ngủ gà ngủ gật, để theo ba má ra đồng cuốc đất nhổ cỏ, chuẩn bị cho mùa lúa mới. Hình ảnh, những đôi trâu, cái cày, những con chim bu xuống đất ăn trùng, những đàn vịt chăn nuôi ùa vào ruộng sau ngày gặt lúa ; rất thân thương, triều mến, gần gụi như chiếc áo thâm đen bởi chất mồ hôi mặn.
Những buổi trưa hè, sau giờ lao động, dưới gốc cây gáo, quay quần bên nhau với những nấm cơm ăn với khô cá xặc nướng,… thật thơm ngon ; rồi ngã lưng dưới bóng mát chìm vào những giấc mơ: Trâu ơi, ta bảo trâu này. Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…bình dị. Có thế thôi. Là, những ước mơ mộc mạc của “người nông dân”.
Sau vụ mùa năm trước. Thường là, đất được nghỉ ngơi, vài ba tháng. Lúc đó là mùa nước nổi, đất ngủ sâu trong lòng nước và cỏ hoang mọc đầy. Nước lũ, nó bồi dưỡng cho đất nhiều lớp phù sa, làm hồi phục năng lực cho đất. Đất khoẻ mạnh, đất cho lúa xanh tươi và sai hạt. Mùa nước ngập đi qua, đồng cạn, người nông dân phải lo phát cỏ, rồi để cho cỏ khô. Đốt.
Đốt đồng, một cảnh tượng trông thật tàn bạo, dữ dằn, lửa khói mịt mù, tiếng nổ lách chách vang rền, bụi rác bay lên trời, còn đỏ hồng, rồi tắt. Tôi đứng trố mắt ngẩn ngơ nhìn, lòng hoang mang trong những suy tư không giải đáp.
Một hôm, tôi hỏi ba : - Ba à, tại sao người ta phải đốt đồng, để làm gì ? Ba tôi giải thích : - Đối đồng thứ nhất là, cho sạch cỏ khô và chết đi cỏ dại. Thứ hai là tro cỏ có chất mặn làm tiêu bớt chất phèn. Thứ ba, là đất trống, trâu cày dễ dàng và mình đập vỡ những luống đất rồi lấy sạch gốc rễ cỏ dại dễ hơn. Cấy lúa xuống không bị cỏ dại lấn áp ăn hiếp. Ba lại nói : Cỏ dại nó mạnh lắm, mọc um tùm, nhanh chóng, không cần chăm bón. Không phát và nhổ tận gốc rễ cỏ dại thì cây lúa không thể sống nổi với nó.
Tôi thích thú. Ba giải thích một cách gọn gàng dễ hiểu. Sau này lớn thêm một tí, tôi thấy việc đốt đồng giúp ích nhiều cho công việc cày bừa, nhổ gốc cỏ sạch sẽ thì... ruộng lúa được xanh mượt, đều đặng, cỏ dại không mọc, lúa được khoẻ mạnh, đơm nhiều bông, sai hạt. Nông dân cũng hay thiệt.
Thời gian trôi đi mãi. Bốn mùa tiếp nối nhau qua. Lá xanh rồi lá vàng úa. Và, tuổi tôi ngày một thêm lên, già. Đường trần mỗi ngày một ngắn bớt. Bây giờ, ở đây, ôn lại chuyện xưa, người xưa, nơi ruộng đồng mà nghiệm lại dùng trong cuộc sống, thấy còn hợp lý.
Tôi ngẫm nghĩ, đất tâm như đất ruộng đồng, không khác. Nếu, để cuộc sống phóng đãng, bê tha, không trách nhiệm… thì đất tâm hứng nhận nhiều cỏ dại : cỏ tham, cỏ sân, cỏ si, cỏ giận hờn, cỏ hận thù, cỏ ganh tị, cỏ hơn thua, cỏ thèm khát… xâm chiếm hết tâm hồn. Rồi cuộc đời, đắm chìm trong vòng hệ lụy.
Vậy, làm sao để gìn giữ cánh đồng tâm, cho xanh tươi, dịu mát, thơm lừng, đơm đầy hoa, kết đầy hạt tốt lành? Phải biết làm phục hồi đất tâm, phải biết chăm bón bồi bổi bằng việc giữ giới luật, đức hạnh, bằng những công phu học tập tuệ giác của Bụt, của Tổ, và Thầy hiền bạn hiền tốt. Phải siêng năng như người nông dân biết thương đất, yêu ruộng lúa, yêu vườn cây, như yêu thương chính bản thân mình.
Theo những cánh hoa sen, trôi trên dòng sông đi về biểi rộng, lóng lánh sáng ngời dưới nắng ấm, tôi thấy những cánh sen đang kết lại trong đại dương xanh trong, trong bài kệ thứ 26 của Giáo Học Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị, thơm lừng tỏa ngát.
“Tuệ giác là thứ lương dược có thể trị được mọi chất độc (tam độc). Nhờ tuệ giác mà bậc trượng phu vượt khỏi vòng sinh tử, như con rắn lột được xác cũ của nó.
Đề bại hại hòa
Đa dục phương học
Vân trừ chúng ác
Thành thu tất đa
Cỏ lúa làm hại lúa. Ham muốn và ái dục gây trở ngại cho sự tu học. Diệt cỏ, trừ cho sạch các tật xấu, thì hoa trái tu học sẽ thu hoạch được rất nhiều”.(2)

Bài kệ trên, như một bó đuốc soi đường, chỉ hướng, để mình còn trong vùng tăm tối mà thấy được ánh sang thì dò bước đi ra.

Chân hội đăng, mtl. 01-04-2016.
(1)Từng bước nở hoa sen (Thi kệ nhật tụng). Nhất Hạnh. Nxb, Lá Bối. Ca. 1988.
(2)Kết một tràng hoa. Thích Nhất Hạnh. Nxb - Phương Đông – 2014. Trang 46.
Tam độc, là Tham, Sân, Si. Ba loại phiền não này, không những là ba loại nọc độc, mà chúng còn làm nền tảng để sinh khỏi mọi pháp bất thiện, cho nên chúng cũng được gọi là « ba căn bất thiện ».
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sat May 07, 2016 3:11 pm

hận đời

“… Một trong những con vẹt rất thân với Kenrap Tenzin, vị giám sát y phục cho tôi. Ông ta thường cho nó hạt dẻ. Khi nó mổ hạt từ tay ông, ông thường vuốt đầu nó, và nó trở nên đờ đẫn, như ngây như dại. Tôi rất thích làm bạn với nó, nhưng thử bắt chước, mà không bao giờ thành công. Tôi bèn phạt nó một roi. Từ đó, mỗi khi trông thấy tôi là nó lánh xa.
Đây là một bài học rất hay về cách kết bạn. Chúng ta không thể dùng sức mạnh, mà phải có lòng từ bi. …” Đạt Lai Lạt Ma – Tenzin Gyatso.(*)

Sáu Nhảy, bảy Thọt, chẳng bao giờ, ở trong xóm mà người ta thích gần gũi, chơi thân với chúng nó. Trong đầu hai đứa, dường như không có tình cảm, kh ông hạnh phúc và lòng thương. Trong xóm, từ đầu thôn đến cuối ngõ: Chó mèo heo gà vịt, nghe tiếng chân chúng là biến đi, là lủi trốn. Hễ để chúng gặp là chúng đá, đánh, đập,…hoặc chọc ghẹo mấy ông già, bà già; chơi vậy thôi. Chúng nó thích thú làm những chuyện đó. Trong đầu của chúng nó nghĩ gì. Đố ai mà biết ?
Trong những năm chiến tranh, dữ quá. Làng tôi, gần như mọi người phải bỏ làng đi lánh nạn. Gia đình tôi tới định cư tại xã Tân Hiệp, tôi học chuyển tiếp, ở đó.
Mỹ Hiệp bên kia sông Tiền và, Tân Hiệp bên này sông Tiền. Bên kia đất bồi, bên này đấy lở. Sông sâu bên lở bên bồi, là vậy.
Trường tiểu học, xem cũng bình thường, một dãy dài, có sáu phòng, mái lợp tôn ciment. Trước có một khoảng đất rộng làm sân chơi, có vài ba cây trứng cá, cây xoài, v.v. Vậy mà tôi nhớ. Nhớ ông giáo Cử, người gầy cao, mặt mày khôi ngô, đầu lúc nào cũng húi cua, như lính. Ông rất nghiêm khắc, dạy học trò chu đáo và đánh đòn rất kĩ. Đứa nào bài vỡ lôi thôi, bị phạt. Lên bàn nằm sấp, kéo trịch quần xuống, đánh như vậy mới thấm, ông nói vậy. Và tôi lại cũng không quên, hai anh em thằng, sáu Nhảy, bảy Thọt. Không biết ai đã đặt cho chúng nó cái tên thật hắc ám, khó nghe mà dễ nhớ. Hai anh em nó có lẽ ghét VC lắm. Tôi là dân tị nạn, từ vùng chiến tranh chạy trốn bom đạn. Đến vùng bình định, tưởng đã được yên. Nhớ, mỗi khi tan trường về, phải đi ngang qua nhà thằng Nhảy, thằng Thọt. Tụi nó hay chặng lại hỏi thăm tôi đôi điều rồi kiếm chuyện, nó nói tôi là VC, rồi tụi nó đè ra vạch áo xem vai tôi. Rồi nói. Nè, vai mày còn in dấu quay súng AK, mày còn chối. Vậy là tụi nó bề hội đồng tôi, tơi tả.
Cho nên, hễ mỗi khi nhớ tới ông giáo Cử và, hai thằng sáu Nhảy, bảy Thọt là tôi cố gắng học, để được lên lớp, để được đổi trường, đổi xã. Nhìn thấy cây kim đồng hồ nhích từng tí, từng tí một, gõ từng tiếng cạch cạch, khoang thai. Vậy mà, thời gian trôi qua mau thiệt, ngoảnh lại cũng hết hồn. Tiểu học cấp I, cấpII, năm sáu năm qua cái vèo. Tôi mừng húm. Xong, thi vào trung học. Cái thời gian, hồi hộp và căng thẳng nhất trong giai đoạn này là lúc dò tên trên bảng thí sinh trúng tuyển. Có đôi lúc đứng tim chết được, là lúc dò qua dò lại mà không thấy tên mình. Khi hai mắt chạm đúng tên tôi, lòng mừng vô hạn. Rồi bỗng giật mình phát hiện, nước gì âm ấm. Té ra, tôi tè ướt quần. Thiệt, quê một cục. Đi đứng lúc đó rất khó coi, để tìm cách lách ra khỏi đám đông.
Mừng đến nỗi tè ra, nỗi mừng lớn lắm đó. Thế là thoát khỏi làng, khỏi xã. Tôi lên tỉnh học. Thoát thầy Cử, thoát sáu Nhẩy, bảy Thọt. Làm sao mà không mừng được chứ !
À! Cũng lạ thiệt, hai đứa nó có học hành ra gì không ? Bây giờ nhớ lại. Khoảng thời gian học hết trường làng, rồi sau đó lên trường xã An Tịch, cũng không thấy hai đứa nó và, lên trung học Sa Đéc, cũng không bao giờ thấy chúng nó, không biết bây giờ hai đứa ra sao. Có một điều, tôi biết chắc, hiện giờ vùng đất ngày xưa không cò hiện hữu nữa. Nước đã cuốn đi một vùng đất rộng lớn nơi đó. Và, người làng Tân Hiệp về đâu ?
“Sông kia rầy đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.” Vâng, mọi vật đều đổi thay, chuyển biến !

Đã hơn nữa thế kỉ trôi qua: mọi người, mọi vật, mọi tâm thức đều thay đổi, kẻ ra đi, người còn ở lại, kẻ sống, người chết,… Tất cả, không vượt thoát được cái quy luật của vô thường. Nhớ thuở xưa, còn trẻ, còn ngây thơ ai đánh tôi đau tôi khóc, tôi sợ, tôi trốn, tôi tránh, hay tìm cách trả thù, cho hả cơn tức giận… hay nuôi hận trong lòng… Chớ không biết suy tư cho sâu cho rộng để hiểu, để biết, để làm cho lòng được thanh thảng, tự do và lòng tha thứ...
Bây giờ, nghĩ lại. Lẽ ra, sáu Nhảy, bảy Thọt, chúng nó phải yêu thương loài vật, giúp đỡ con người nhiều hơn mới phải. Vì, chúng nó được sống nơi chốn yên bình, chiến tranh chưa tràn tới, chúng nó được nhiều may mắn, hạnh phúc hơn. Chúng nó có cơm no, có áo lành, nhà yên ấm và có cha có mẹ. Lẽ ra phải tràn đầy hạnh phúc, niềm vui và yêu thương. Trong khi đó, chúng tôi chạy loạn, thiếu cơm ăn, áo mặc, sống trong sợ hãi, sống trong lạnh lẽo, sống trong bom đạn, chết chóc kinh hoàng… Đúng ra tôi phải hận đời, trách móc cái bất công… hơn sáu Nhảy, bảyThọt mới phải…
Nhìn đời, suy nghĩ, so sánh, theo tâm thường tình, chấp nhận như vậy cũng được. Nhưng, bây giờ tôi nghĩ nếu con người có tình thương thì mới cho tình thương. Và, tình thương phải là, lòng hy sinh, là sự chia sẻ, là sự che chở, đùm bọc, và biết cảm thông. Và tình yêu thương nó như một thân cây, bám chặc rễ trong đất, thì mới lớn mạnh được, mới nẩy mầm, rồi ra hoa trái. Mọc lên từ trong chất khổ đau. Chứng kiến, nếm mùi vị của đau thương; thấu hiểu được khổ đau, rồi mới biết được thế nào là chân hạnh phúc, là chân thương yêu. Biết chuyển hóa những khổ đau thành hoa trái của tình thương, hiểu biết và lòng bao dung thì mới mang lại hạnh phúc cho mình và cho người.
Ngày xưa, ở bên nhà, tôi có thấy một số anh chị tóc dài, hyppy,xâm mình: “Hận đời đen bạc” “đầu lâu trên hai khúc xương chéo” “hận tình đổi trắng thay đen”…Họ thường hay đi đánh lộn, chạy xe móc bô, xoáy nòng, máy nổ ầm ỉ thành phố, quậy phá trong tiệm ăn, gây gổ trước trường học…
Tôi nghĩ, chắc họ là những người rất đau khổ, họ luôn tìm những con đường xấu ác, khó khăn để hành thân xác họ, trong rượu cay, thuốc đắng, họ dày vò thân thể và tâm thức trong nắng sương, trong đêm trường, trong lạnh lẽo…Và những hình ảnh đó không những, trên một quê hương chiến tranh, nghèo khổ. Mà còn, ngay cả trên những đất nước phồn vinh bậc nhất, có nhiều tự do, dân chủ và hằng trăm năm không chiến tranh. Không thiếu ăn, không thiếu mặc, vật chất dư thừa, nhà yên ấm. Trường học, y tế không thiếu thốn. Vậy mà, cũng không thiếu gì những thành phần xâm mình dầy đặc, tóc bù xù, xỏ tai, xỏ mũi, xỏ rốn,… áo quần rách rứi, sống lang thang không nhà, đi ăn xin. Viết, vẽ lăng nhăng bậy bạ đầy tường, xe camion, cột đèn, cây cối bất hợp pháp… Họ hận đời, họ hận tình thương của gia đình, họ hận sự hiện diện của chính họ trên cuộc đời này… phải không?
Có phải chăng họ bị vướng mắc vào những cái thấy sai lầm, vào những cái tưởng không nắm bắt được, không thực hiện được; thế rồi, họ rơi vào trong bốn bức tường sắt trơn tru không bám víu được vào đâu. Bơ vơ, không lối thoát, rồi trở nên cáu kỉnh, hiềm hận cuộc đời. Mà thực ra, cuộc đời nào có oán ghét, buông bỏ một ai. Cuộc đời như một dòng nước. Nước lúc nào cũng dung chứa, ôm ấp và không phân biệt. Dù cho mỗi hạt nước có đi đâu, làm gì, thay hình đổi dạng, mà khi quay lại vẫn nhập chung dòng, vẫn rong chơi, hòa nhã, chung một vị nước. Cũng vậy, xã hội của con người không khác. Chỉ tại tâm phân biệt mà ra thôi.
Theo cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái nhược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận tự nhiên của tâm tư ta. Nhưng theo nguyên tắc tương tức của Bụt dạy thì hạnh phúc và khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. Giống như rác có thể làm ra hoa và hoa nếu để lâu ngày sẽ biến thành rác. Hạnh phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc, và hạnh phúc cũng vô thường nên nó có thể thành khổ đau. Vì vậy khi ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh phúc và khổ đau làm hai là chúng ta đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. Ta nên biết rằng nếu chưa từng khổ đau thì chúng ta chưa có cơ hội biết được thế nào là hạnh phúc. Vì vậy cho nên ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức, cái này chứa cái kia, khổ đau chính là chất liệu làm ra hạnh phúc. Thích Nhất Hạnh.


Chân hội đăng, mtl. 14-04-2016.
(*)Tự do trong lưu đày. Đạt Lai Lạt Ma (Tenzin Gyatso) tự truyện. nxb, Văn nghệ. Ca. 1992.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Re: thoảng hương sen

Postby Nguyễn Long Hiệp » Sat May 07, 2016 3:13 pm

hướng

“Mạc-hạ-diên, mà phương Tây gọi là sa mạc Gobi, sách xưa gọi là Sa hà một bãi cát mênh mông, dài trên 800 dặm nối liền hai nền văn minh tối cổ của nhân loại; trên không chim bay, dưới không thú chạy; cỏ không, nước cũng không, Huyền Trang một mình một bóng, đã vượt qua khỏi đoạn đường đầy kinh sợ và thường xuyên làm nãn lòng những người kiên cường nhất, duy chỉ bằng vào lời kinh: Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh… Khi vượt sa mạc đầy kinh sợ, với những hình bóng ma quái chập chờn, với ác quỷ kỳ hình dị trạng chợt hiện trước mặt, hoặc đuổi theo sau lưng… Pháp sư, nhất tâm bất loạn hướng vào lời kinh, cất tiếng tụng niệm. Lạ lùng thay, mọi hình tượng quái dị biến mất. Quả thật đúng như lời kinh,”…chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” (1)
Mở lòng sáng nhất tâm hướng về Phật Pháp, là hướng về nẽo thiện, nghĩa là quay lưng bỏ lại đằng sau những tham, sân, si là ba loại phiền não, là ba loại nọc độc làm nền tảng để sinh khởi mọi điều bất thiện, ngăn chặn hướng vào chân thiện mỹ.
Muốn không lầm đường lạc lối. Vậy, phải biết hướng đi tốt lành. Phương hướng rất quan trọng: như khi khát, tìm được chén nước mát; như lúc đói, có được chén cơm. Còn như, chiếc thuyền trôi dạt lênh đênh ngoài biển khơi, không biết hướng sẽ lo lắng, sợ hãi và khổ biết chừng nào,… Như trong kinh có nói:
“ Làm thân con lạc đà chở nặng cũng chưa thật sự là khổ, vô minh không biết được hướng đi mới thật là khổ.”(2)
Sau khi miền nam hoàn toàn thất thủ, dân chúng cả miền cũng ngơ ngẩn. Người ta không ngờ: Dân quân ta mạnh, đồng minh ta hùng cường mà rút lui giữa cuộc. Rồi đầu hàng. Thua,…chạy. Hơn triệu người chạy ra biển tìm hướng tự do, hạnh phúc. Vượt qua vô vàn gian khổ, phó thác số mệnh cho Phật Trời. Thế mà, bác ba Tao vẫn ở lại. Không phải bác thích cái chế độ CS – Bác không đành bỏ nơi chôn nhau cắt rún: “Nơi tôi sinh ra, lớn lên và tôi chết nơi đây”- Bác nghĩ vậy.
Đất nước này khi thay ngôi đổi chủ, từng ngày một tâm tư con người dần dần chuyển màu như lá rừng thu, đạo đức rơi rụng qua từng cơn gió của cái tư duy biện chứng duy vật, vô thần, vô tình, vô nghĩa, vô nhân, tham ô,…
Người nông dân càng ngày càng lam lũ mà khó đủ có miếng ăn. Bác ba Tao thường hay than: “ Tôi bây giờ không dám làm cho mệt cái thân, sợ bệnh không thuốc men chữa trị “.
Đất nước muốn có được phồn vinh, nhân vị cũng do vì một vị nhân chủ phải vạch một hướng đi trong sạch, lương thiện, tốt lành, đức hạnh và phải làm mẫu mực cho lương dân. Như cha mẹ đem tình thương, bảo bọc, nâng đở, cho con. Còn nếu như, vị nhân chủ quay lưng bỏ lương dân chỉ biết tham lam tư lợi, ruồng bỏ nhân nghĩa, chà đạp tư do, không xây đạo đức, học đường, nghiêm cấm tôn giáo, thì muôn dân trăm họ như ngồi chung trên chiếc thuyền lênh đênh ngoài biển mù sương. Không hướng thượng. Dân phải nghèo, nước phải khổ như một người gánh một gánh nặng mà đi về nẽo tối tăm. Đó là vị nhân chủ vô minh.
“…Đêm mùng ba tháng tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ năm (1236), Trẫm đổi y phục đi ra khỏi cửa cung, bảo tả hữu rằng: “Trẫm muốn đi dạo để nghe lời dân, biết được chí dân, mới hiểu thấu nỗi khó khăn của họ”. Bấy giờ tả hữu theo trẫm không quá bảy tám người. Giờ hợi đêm ấy, Trẫm cỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; sang sông thẳng về hướng đông, mới nói thực lòng cho tả hữu biết. Tả hữu ngạc nhiên, tất cả đều khóc. Giờ mẹo hôm sau, đến bến đò Đại Than bên núi Phả Lại, sợ có người biết, Trẫm lấy áo che mặt qua sông, đi tắt theo đường núi. Đến tối vào nghỉ chùa Tăng Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Leo trèo lặn lội, núi hiểm suối sâu, ngựa mỏi mệt không thể tiến lên được; Trẫm bèn bỏ ngựa vin vách đá mà lần bước, đến giờ mùi mới tới sườn núi Yên Tử. Sáng hôm sau, Trẫm trèo thẳng lên đỉnh núi, tham kiến vị Đại Sa môn Quốc Sư Trúc Lâm. Quốc Sư vừa thấy Trẫm mừng rỡ, ung dung bảo: “ Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối dạo cảnh rừng, lòng như mây nổi theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu điều gì mà đến đây ?
Trẫm nghe nói, hai hàng nước mắt tự tràn, đáp lại sư rằng: Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thịnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác. Sư bảo: Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà Biết gọi là Chơn Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài. ……………………
…..Trẫm thấy Thái Sư cùng các cố lão quần thần không có ý bỏ Trẫm, liền đem lời này tỏ bày với Quốc Sư. Quốc Sư cầm tay Trẫm bảo: Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng sao lảng. …………………………..
Trẫm thường đọc Kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ.” Vua Trần Thái Tông (1218-1277) (3)
Khi con thuyền dân tộc có hướng đi nhân vị sẽ đưa đất nước đến bến thanh bình, thịnh vượng, dân an lạc, nước thái hòa. Như thời nhà Lý, nhà Trần cai trị dân bằng đức độ, anh minh. Nên, trải dài hơn 300 năm yên bình, dân mến mộ, sử sách còn thơm.
Con người, có tâm hướng theo nẽo trong lành, chân thiện, sẽ mở được cánh cửa lòng sáng, để: Xưng tán Bụt đem lại cho ta tuệ giác, tự do và làm cho phiền não, tham vọng, hận thù trong ta tan biến, vì chúng ta đang hướng về một cái gì rất đẹp.(4)
Hướng lành đã có,
đường về thảnh thơi,
thân tâm tự tại,
có chi lo buồn.

Chân hội đăng, mtl, 25-04-2016
(1)Dẫn vào Tâm Kinh Bát Nhã. Tuệ Sỹ
(2)(4)Tri kỷ của Bụt. Thích Nhất Hạnh. Nxb Đông Phương. 2014. Trang 292.
(3)Khóa Hư Lục Giảng giải. Thích Thanh Từ. Trang 15,16,17,18.
Nguyễn Long Hiệp
 
Posts: 38
Joined: Wed Jan 22, 2014 8:23 am
I am: Friend

Previous

Return to Prose

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest



www.VomtroiMagazine.com

All Daily News - Tin mới nhất
www.VomTroiMagazine.com 

********

Cám Ơn.Thank You.Merci

Contact us

Vom Troi Magazine

9101 Boul. Maurice Duplessis 
Succ. Rivières des Prairies
P.O. Box 25273
H1E – 6M0 Mtl PQ 
Tel: 514-677-7315

VomtroiMagazine@gmail.com
VNBusinessMedia@Yahoo.com 

_________________________ __________________________
 Supporters **** ****

        


HTML Counter
cron